TỨ
NIỆM XỨ
I. GIỚI THIỆU
Vào thời đức Phật còn tại thế, khoảng ba tháng trước khi nhập Niết bàn,
có một hôm ngài bị bệnh nặng, toàn thân đau nhức nhưng ngài vẫn kham nhẫn, an
trú chánh niệm tỉnh giác. Ananda lúc ấy
còn là vị tỷ kheo hữu học, làm thị giả cho Thế tôn, thấy vậy liền buồn bã, lo
lắng, cầu xin Thế tôn để lại lời di giáo trước lúc nhập Niết bàn. Đức Phật dạy
rằng: “... này Ananda, hãy tự mình là
ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì
khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ
nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn
đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác,
dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương
tựa một gì khác?
Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối
với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu
bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp,
tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này
Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương
tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng
Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt
độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không
nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là
những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học
hỏi.”[1]
Đạo phật là con đường
đưa đến giác ngộ, chấm dứt khổ đau, do đó đạo Phật không thể mang ta đến giác
ngộ, chấm dứt khổ đau mà ta phải đi trên con đường đó để đến chấm dứt khổ đau.
Người tu tập theo đạo Phật không thể nhờ cậy một sức mạnh nào bên ngoài giúp đỡ,
mà chính mình phải tự thân vận động, tự thân nỗ lực, tự mình bước đi trên con
đường đó để đạt đến mục tiêu, đạt được giác ngộ. Và con đường mà chúng ta phải
đi qua đó chính là Tứ Niệm Xứ. Là một chi phần trong Bát thánh đạo, vô cùng
quan trọng, bắt buộc hành giả phải tu tập để tiến đến giải thoát, cho nên đức
Phật thường gọi đây là con đường duy nhất đưa đến Niết bàn: “Này các Tỷ
kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu
bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ.”[2]
Bên cạnh là phương pháp
tu tập giúp những người phàm phu lên địa vị thánh, đưa những vị thánh hữu học đến
vô lậu giải thoát, Tứ niệm xứ còn được gọi là chỗ “thánh trú”, vì ba đời chư Phật
và các vị A la hán khi còn tại thế đều an trú vào trong pháp này: “Bạch Thế
Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn
này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an
trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô
thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm
khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy
Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại
đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú
tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng
Chánh Ðẳng Giác.”[3]
Với những tính chất quan trọng đó, chúng ta là
những người theo Phật, tự xưng là đệ tử Phật thì thật là xấu hổ nếu không biết
gì về Tứ niệm xứ và không thực hành Tứ niệm xứ. Vì rằng: “Với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ bị thối thất, đối với những
người ấy, cũng bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.
Với những ai, này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ này được thực hành, đối với những
người ấy, cũng được thực hành là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ
đau.”[4]
II. NỘI DUNG
Tứ niệm xứ nghĩa là bốn
trú xứ, bốn cơ sở, bốn đề mục, hay bốn nền tảng để thiền định, quán chiếu, và
an trú niệm (tâm) vào đó bao gồm: thân, cảm thọ, tâm, và pháp. Như vậy, Tứ niệm
xứ là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm xứ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở
đời... trú, quán thọ trên các cảm thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán
pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm xứ.”[5]
1.
Niệm Thân[6]
Trong Bốn niệm xứ, niệm
thân được nói đến rất nhiều, rất được chú trọng, nếu được tu tập sẽ đem lại nhiều
lợi ích: “ Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư
Hiền giả! Thân hành niệm, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn,
có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác tuyên bố.”[7]. Niệm thân gồm có: quán niệm hơi thở, chánh niệm trên
bốn oai nghi, quán thân bất tịnh, quán tứ đại và quán tử thi.
A.Quán niệm hơi thở[8]:
Là một đề mục hành thiền rất phổ biến hiện nay, được tất cả hai truyền thống Phật
giáo Nam và Bắc sử dụng, được đức Phật giảng dạy cho các Tỷ kheo mới vào đạo
đang tìm cầu giải thoát, Niệm hơi thở cũng là nơi an trú của các Bậc thánh vô lậu:
“Này các Tỷ-kheo, ai muốn nói một cách
chơn chánh, đây là Thánh trú, đây là Phạm trú, đây là Như Lai trú; người ấy nói
một cách chơn chánh, phải nói định niệm hơi thở vô, hơi thở ra là Thánh trú, là
Phạm trú, là Như Lai trú.
Này
các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần
cầu vô thượng an ổn khỏi các khổ ách; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định
niệm hơi thở vô, hơi thở ra, sẽ đưa đến đoạn tận các lậu hoặc. Và này các Tỷ-kheo,
những Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc, tu hành thành mãn, những
việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ
hữu kiết sử, chánh trí, giải thoát; những vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định
niệm hơi thở vô, hơi thở ra, ngay trong hiện tại, đưa đến lạc trú, chánh niệm tỉnh
giác.”[9]
Hiện nay rất nhiều dòng
thiền trên thế giới giảng dạy định niệm hơi thở, tuy nhiên mỗi nơi giảng dạy một
cách khác nhau: Dòng thiền theo ngài Pa-Auk Sayadaw dạy các thiền sinh để niệm
trước mũi, chánh niệm hơi thở ra vào ở đó mà không theo hơi thở di chuyển; dòng
thiền của ngài U Pandita lại dạy đệ tử để tâm vào sự Phồng xẹp nơi bụng khi hơi
thở ra vào; cũng có những trường phái thiền thì dạy học trò theo dõi hơi thở từ
ngoài vào trong rồi ra lại... Trong tất
cả những cách niệm hơi thở trên, chúng tôi thấy phương pháp niệm hơi thở theo ngài Pa-Auk Sayadaw có thể giúp hành giả
vào định sâu, và từ đó có thể đi vào các bậc thiền.
Theo kinh Niệm xứ và
Kinh quán niệm hơi thở trong Kinh trung bộ, đức Phật dạy Niệm hơi thở theo mười
sáu phần, sau này được các vị thầy giảng dạy bằng những cách khác nhau. Vì chưa
thực hành viên mãn bài quán niệm hơi thở này nên không dám giải thích nhiều mà
chỉ trích nguyên văn trong kinh để mọi người tự nghiên cứu: “Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, được
tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, công đức lớn. Nhập tức xuất tức
niệm, được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn. Bốn
niệm xứ được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn. Bảy
giác chi được tu tập, làm cho sung mãn, khiến cho minh giải thoát (vijjavimutti)
được viên mãn.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là tu
tập nhập tức xuất tức niệm? Như thế nào là làm cho sung mãn? Như thế nào là quả
lớn, công đức lớn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi
đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già, lưng
thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở
ra.
Thở vô dài, vị ấy biết: "Tôi thở
vô dài". Hay thở ra dài, vị ấy biết: "Tôi thở ra dài". Hay thở
vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết:
"Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân
hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm
giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy
tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm
hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở
ra", vị ấy tập.
"Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với
tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi
sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán vô thường, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập "Quán ly tham, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Nhập tức xuất tức niệm, này các
Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy, được quả lớn, được công đức
lớn.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là
nhập tức xuất tức niệm được tu tập? Như thế nào là làm cho sung mãn, khiến bốn
niệm xứ được viên mãn?
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở
vô dài, vị ấy biết: "Tôi thở vô dài". Hay khi thở ra dài, vị ấy biết
"Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở vô
ngắn". Hay khi thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi thở ra ngắn".
"Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả
toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Trong khi tùy quán thân trên thân, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo,
đối với các thân, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, vị Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo
nghĩ: "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ
thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm
hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Trong khi tùy quán thọ trên các thọ, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đối với các
cảm thọ, Ta nói đây là một, tức là thở vô thở ra. Do vậy này các Tỷ-kheo, trong
khi tùy quán thọ trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nghĩ: "Cảm giác tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị
ấy tu tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với
tâm Thiền định, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm Thiền định, tôi
sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị
ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi tùy
quán tâm trên tâm, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, sự tu tập nhập tức xuất tức
niệm không thể đến với kẻ thất niệm, không có tỉnh giác. Do vậy, này các
Tỷ-kheo, trong khi tùy quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Khi nào này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
nghĩ: "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô
thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham... quán đoạn diệt...
quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở
ra", vị ấy tập. Trong khi tùy quán trên các pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Vị ấy, do
đoạn trừ tham ưu, sau khi thấy với trí tuệ, khéo nhìn sự vật với niệm xả ly. Do
vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo trú, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
Nhập tức xuất tức niệm, này các
Tỷ-kheo, được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm
xứ được viên mãn.
Và bốn niệm xứ, này các Tỷ-kheo, được
tu tập như thế nào, được làm sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được
viên mãn?
Này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán
thân trên thân, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham
ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm
không hôn mê của vị ấy cũng được an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy niệm
giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo. Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập niệm
giác chi. Trong khi ấy, niệm giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy,
suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi trú
với chánh niệm như vậy, Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy,
trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo. Trong khi ấy,
Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi. Trong khi ấy, trạch pháp giác chi được
Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư,
tư duy, thẩm sát pháp ấy, sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với vị
Tỷ-kheo. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm
sát pháp ấy, trong khi ấy sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với
Tỷ-kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.
Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi. Trong khi ấy, tinh tấn giác chi
được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Hỷ không liên hệ đến vật chất được
khởi lên nơi vị tinh tấn tinh cần. Này các Tỷ-kheo, trong khi hỷ không liên hệ
đến vật chất khởi lên nơi Tỷ-kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy, hỷ giác chi
bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, hỷ giác chi được vị Tỷ-kheo tu tập.
Trong khi ấy hỷ giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.
Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở
thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với
ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an
giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được
Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến
sung mãn.
Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm
vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo có thân khinh an, an
lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy, định giác chi bắt đầu khởi lên nơi
Tỷ-kheo. Trong khi ấy, định giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác
chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo
nhìn sự vật với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định
tĩnh như vậy, khéo nhìn sự vật với ý niệm xả ly, trong khi ấy, xả giác chi bắt
đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong
khi ấy xả giác chi, được Tỷ-kheo làm cho đến sung mãn.
Này các Tỷ-kheo, trong khi quán thọ
trên các cảm thọ...
Này các Tỷ-kheo, trong khi quán tâm
trên tâm...
Này các Tỷ-kheo, trong khi quán pháp trên
các pháp, Tỷ-kheo an trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều
phục tham ưu ở đời, trong khi ấy niệm của vị ấy được an trú, không có hôn mê.
Này các Tỷ-kheo, trong khi niệm của Tỷ-kheo được an trú, không có hôn mê, niệm
giác chi, trong khi ấy, được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Niệm giác chi trong
khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Niệm giác chi trong khi ấy, được Tỷ-kheo làm cho đi
đến sung mãn. Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát
pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi an trú với chánh niệm như vậy,
vị ấy suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Trạch pháp giác chi trong
khi ấy được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trạch pháp giác chi trong khi ấy được
Tỷ-kheo tu tập. Trạch pháp giác chi trong khi ấy đi đến sung mãn, tinh tấn
không thụ động bắt đầu khởi lên nơi vị ấy. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo
suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ, và tinh tấn không thụ động bắt
đầu khởi lên nơi vị ấy, tinh tấn giác chi trong khi ấy bắt đầu khởi lên nơi vị
Tỷ-kheo. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Tinh tấn giác chi được Tỷ-kheo
làm cho đi đến sung mãn. Ðối với vị ấy, tinh cần tinh tấn, hỷ không liên hệ đến
vật chất khởi lên. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo tinh cần tinh tấn và hỷ
không liên hệ đến vật chất khởi lên, hỷ giác chi trong khi ấy bắt đầu được khởi
lên nơi Tỷ-kheo. Hỷ giác chi trong khi ấy được Tỷ-kheo tu tập. Hỷ giác chi
trong khi ấy được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn. Thân của vị ấy được tâm hoan
hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi
Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy
khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi
được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi
đến sung mãn. Một vị có tâm khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các
Tỷ-kheo, trong khi vị ấy có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh,
trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, định
giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy định giác chi được Tỷ-kheo làm cho
đi đến sung mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy khéo nhìn sự vật với ý niệm xả
ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn sự
vật với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.
Trong khi ấy, xả giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy xả giác chi được
Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.
Này các Tỷ-kheo, bốn niệm xứ được tu
tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được sung
mãn.
Và này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được
tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh giải
thoát được viên mãn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu
tập niệm giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt,
hướng đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu
tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập
xả giác chi, liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến diệt, hướng
đến xả ly. Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung
mãn như vậy, khiến cho minh giải thoát được viên mãn.”[10]
B.Chánh niệm tỉnh giác trên bốn oai
nghi: Một hành giả
Phật giáo, bên cạnh tập trung vào đề mục thiền định của mình, trong sinh hoạt
hàng ngày tâm phải luôn tỉnh giác chánh niệm, an trú vào bốn oai nghi: đi,
đứng, nằm, ngồi... để loại trừ các niệm và tư duy thuộc về thế tục. Theo truyền
thống Bắc truyền ở Việt nam, một người mới xuất gia phải học thuộc các bài kệ
Tỳ ni và hai mươi bốn thiên oai nghi để hành trì hàng ngày nhằm thúc liễm thân
tâm. Trong Kinh Brahmayu, số 91 thuộc kinh
Trung bộ, oai nghi cử chỉ của đức Phật được học trò của Bà la môn
Brahamayu kể lại với thầy mình rằng: “Khi
Tôn giả Gotama đi, Ngài bước chân mặt trước, không đặt chân xuống quá xa, không
rút chân lên quá gần, không bước quá mau, không bước quá chậm, khi đi đầu gối
không va chạm đầu gối, khi đi mắt cá không va chạm mắt cá; Ngài đi không co bắp
vế lên, không duỗi bắp vế xuống, không đưa bắp vế vào trong, không đưa bắp vế
ra ngoài. Khi đi Tôn giả Gotama chỉ di động phần thân ở dưới, và không dùng
toàn thân lực. Khi ngó quanh, Tôn giả Gotama ngó quanh với toàn thân. Khi đi
không có ngưỡng mặt lên, không cúi mặt xuống, không có ngó quanh, và chỉ ngó
xuống khoảng một tầm (yugamattam, bề dài một cái cày). Xa hơn, tri kiến được mở
rộng (anavatam: không bị che đậy).
Khi đi vào nhà, (Tôn giả Gotama)
không ngửa thân về phía sau, không cúi thân về phía trước, không đưa thân về
phía trong, không đưa thân về phía ngoài; vị ấy quay lưng không quá xa ghế
ngồi, không quá gần ghế ngồi; ngồi trên ghế, không nắm chặt thành ghế, không
gieo thân ngồi xuống ghế.
Khi ngồi trong nhà. Ngài không rung
tay, không rung chân, không ngồi tréo đầu gối với nhau, tréo mắt cá với nhau,
không ngồi tay chống cằm. Khi ngồi trong nhà, không có sợ hãi, không có run
rẩy, không có dao động, không có hoảng hốt. Như vậy Tôn giả Gotama ngồi, không
sợ hãi, không run sợ, không dao động, không hoảng hốt, lông tóc không dựng
ngược, Thiền tịnh độc cư...
Ngài đi không quá mau, không quá
chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy.
Tôn giả Gotama đắp y không kéo lên
quá cao trên thân, không kéo xuống quá thấp, không dính sát vào thân, không có
lơi ra khỏi thân, gió thổi không thoát y khỏi thân Tôn giả Gotama; bụi nhớp
không dính trên thân Tôn giả Gotama.
Ði đến tu viện, Ngài ngồi trên ghế đã
soạn sẵn, sau khi ngồi liền rửa chân, và Tôn giả Gotama không sống chú tâm vào
công việc làm đẹp hai chân. Ngài ngồi kiết già, lưng thẳng, và đặt niệm trước
mặt. Ngài không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại
cả hai. Tôn giả Gotama ngồi, tâm hướng đến lợi mình, lợi người, lợi cả hai, lợi
toàn thế giới.”[11]
Để luôn luôn giữ được oai nghi chánh hạnh và sống trong tỉnh thức như đức
Thế tôn, đòi hỏi người học đạo phải trải qua một quá trình thực tập rất nghiêm
túc như lời Phật dạy: “này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo đi, biết rằng: "Tôi đi". Hay đứng, biết rằng: "Tôi
đứng". Hay ngồi, biết rằng: "Tôi ngồi". Hay nằm, biết rằng:
"Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như
thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và
tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được
an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu
tập thân hành niệm.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi
bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc
mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang
áo tăng-già-lê (sanghati), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi
ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đứng, ngồi, ngủ, thức,
nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.”[12]
Lời dạy trên
của đức Phật trông rất đơn giản nhưng không hề dễ chút nào vì tính buông lung và
dễ dãi của chúng sanh. Trong khi đó bài thực tập này đòi hỏi một sự kiên trì và
nỗ lực rất lớn với tất cả sức bình sinh của mình để hành trì. “Ví như một số đông quần chúng, này các
Tỷ-kheo, tụ họp lại và nói: "Cô gái hoa hậu của quốc độ. Cô gái hoa hậu
của quốc độ!". Và người con gái hoa hậu quốc độ ấy với tất cả sự quyến rũ
của mình, múa cho họ xem, với tất cả sự quyến rũ của mình, hát cho họ nghe. Và
một số quần chúng còn đông hơn tụ họp lại và nói: "Cô gái hoa hậu của quốc
độ múa và hát". Rồi một người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc,
ghét khổ, họ nói với người ấy như sau: "Này Ông, hãy xem đây. Ðây là cái
bát đầy dầu. Ông hãy mang bát dầu ấy và đi vòng quanh đám quần chúng lớn và
người con gái hoa hậu của quốc độ. Và một người với cây kiếm giơ cao sẽ đi theo
sau lưng Ông. Tại chỗ nào làm đổ một ít dầu, tại chỗ ấy, đầu Ông bị rơi
xuống". Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, người ấy có thể không tác ý
đến bát dầu, phóng tâm hướng ngoại không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
Ví dụ này, này các Tỷ-kheo, Ta nói ra để nêu rõ ý
nghĩa. Và đây là ý nghĩa của nó. Này các Tỷ-kheo, cái bát đầy dầu là đồng nghĩa
với thân hành niệm.”[13]
Để hiểu rõ hơn về phương pháp thực tập chánh niệm tỉnh giác này, dưới đây
xin ghi lại một ví dụ tiêu biểu của một vị đệ tử của Phật được khen ngợi về khả
năng chánh niệm tỉnh giác: “Này các
Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Ðông, tập trung tất cả tâm, Nanda nhìn
về hướng Ðông và suy nghĩ: "Như vậy, khi Ta đang nhìn về hướng Ðông, thời
tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không có xâm nhập". Như vậy, ở đây vị
ấy tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Tây ... nhìn về
phương Bắc ... về phương Nam ... ngước nhìn lên Trên ... cúi nhìn về phương
Dưới ... hay nhìn về hướng giữa các phương chính, tập trung tất cả tâm, Nanda
nhìn về hướng giữa các phương chính và suy nghĩ: "Như vậy, khi ta đang
nhìn về hướng giữa các phương chính, thời tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ
không có xâm nhập". Như vậy, ở đây, vị ấy tỉnh giác.”[14]
C.
Quán Thân Bất Tịnh: là một trong các đề mục hành thiền giúp hành giả hiểu rõ được
bản chất nhơ bẩn của thân thể đưa đến nhàm chán ly tham và chứng ngộ Niết bàn.
Quán thân bất tịnh rất được phổ biến ở cả hai truyền thống Phật giáo, trong
truyền thống Phật giáo Bắc truyền khi nói đến niệm thân tức là Quán thân bất tịnh,
và trong các tài liệu Phật học cơ bản như Phật học Phổ Thông của HT.Thiện Hoa
khi nói đến Tứ Niệm Xứ là Quán Thân bất tịnh, quán tâm vô thường, quán pháp vô
ngã, và quán thọ thị khổ.
Bởi vì tâm chúng sanh
luôn bị nghiệp chi phối nên thường nhìn sự vật với ngã tướng mà sinh tâm tham đắm.
Quán bất tịnh giúp hành giả nhìn vào thân thể mình và người với tính chất thật
của nó với máu me xương tủy... không bị vẻ bề ngoài che lấp. Với cái nhìn liên
tục như vậy hành giả sẽ không còn ái nhiễm thân thể của mình và người, không
còn chấp thủ vào thân mình và người, đưa đến liễu tri thân và xa lìa tham dục
giải thoát Niết bàn.
Khi quán thân bất tịnh
hành nên ngồi kiết già ngay thẳng chú tâm vào từng bộ phận của cơ thể để quán
chiếu như kinh dạy. Ngoài ra hành giả cũng có thể quán chiếu ở mọi nơi mọi lúc,
đặc biệt khi tâm bị ái nhiễm chi phối. Sau đây là nguyên văn đoạn kinh quán bất
tịnh: “Lại
nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên
cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt:
"Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận,
tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ,
máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước
tiểu". Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại
hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ
các hột ấy ra và quán sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu
xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi". Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến
đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân
này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan,
hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi,
mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu.”[15]
D.
Quán Tứ Đại Trong Thân: cơ thể của con người được cấu tạo
bởi chất rắn, chất lỏng, chất khí, và hơi ấm. Khi những chất này kết hợp với
nhau theo một quy luật nhất định dưới sự chi phối của nghiệp lực tạo ra một
hình hài nào đó. Khi thọ mạng chấm dứt, năng lượng để duy trì cơ thể không còn
nữa, các vật chất sẽ tự vận hành theo quy luật tự nhiên của chúng: chất rắn sẽ
tan rã, chất lỏng chảy ra, chất khí bay đi, và hơi ấm bị biến đổi. Bản tính của
vật chất là như vậy, không thể thay đổi được, tuy nhiên do không hiểu rõ quy luật
này nên chúng sanh tham đắm và chấp thủ vào sự hiện hữu của chúng mà khổ đau, sầu
muộn khi chúng biến chuyển đổi khác.
Vì vậy, quán bốn đại
trong thân giúp chúng ta hiểu rõ tính cấu tạo của thân và bản chất thật của nó
để không còn tham ái đối với thân, khi thân bị già, bệnh, và chết chi phối
chúng ta sẽ không than vãn sầu muộn.
Cách thức quán tứ đại
trong thân cũng như quán thân bất tịnh, tuy nhiên ở đây khi hành giả tác ý đến
từng bộ phận của thân cần phải biết rõ bộ phận đó thuộc chất rắn, chất lỏng, chất
khi hay hơi ấm. Đồng thời cũng nên tác ý thêm tính chất của các vật chất đó là
vô thường, bất tịnh... để xa lìa tham ái và chúng ngộ Niết bàn. Dưới đây là đoạn
trích trong kinh do đức Phật dạy: “...này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị
trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại,
hỏa đại, và phong đại". Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo,
hay đệ tử của một người đồ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại
ngã tư đường; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí
các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại,
hỏa đại và phong đại".”[16]
E.
Quán Tử Thi: cũng giống như quán thân bất tịnh và
quán tứ đại, với mục đích để hành giả hiểu rõ bản chất của thân thể vật lý nầy,
nhằm đoạn diệt tham dục và giác ngộ giải thoát. Tuy nhiên, đối với quán thân bất
tịnh và quán tứ đại có thể lấy thân thể mình để làm đối tượng quán chiếu, và
thường là dùng tưởng và tư duy phân tích nhiều hơn. Trong quán tử thi hành giả
phải dùng xác người chết để làm đề mục quán chiếu, và tận mắt mình thấy rõ sự
hư hoại mục nát của tử thi trong từng giai đoạn từ sình lên xanh bầm cho đến biến
thành tro bụi.
Thời xưa, ở Ấn Độ người chết được quăng bỏ trong rừng cho nên các thầy Tỷ
kheo có thể vào đó để quán tử thi. Ngày này phong tục đó không còn nữa nhưng
trong cuộc sống thỉnh thoảng chúng ta cũng có dịp tiếp xúc với thi thể mới chết
hay đã được thiêu, chúng ta có thể lấy những hình ảnh đó để quán chiếu đều
được. Dưới đây xin chép lại nguyên văn phần quán tử thi trong kinh Thân Hành
niệm: “... này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa
một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát
thối ra; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản
tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy".
Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa bị các loài quạ ăn, hay bị các loài
diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài
giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau:
"Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi bản
chất ấy".
Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn
trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với
nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; Tỷ-kheo quán thân
ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không
vượt khỏi bản chất ấy".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với
nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại;
Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là
như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn có xương không dính lại
với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở
đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương
sống, ở đây là xương đầu; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh
chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy".
Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc;
Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là
như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn một đống xương lâu hơn một
năm; Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản
tánh là như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như
thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn là xương thối trở thành bột;
Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là
như vậy, không vượt khỏi bản chất ấy".
Trong khi vị ấy sống không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ
đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.”[17]
2.
Niệm Thọ
Niệm là ghi nhớ, chánh niệm, quán chiếu. Thọ là cảm thọ (feeling), cảm
xúc, cảm nhận hạnh phúc hay khổ đau, cảm giác lạnh, cảm giác nóng... Vậy, niệm
thọ có nghĩa là nhận biết được những cảm giác khổ, lạc hay lạnh, nóng đó đang
khởi lên, tồn tại và diệt mất, quán chiếu nguồn gốc sinh khởi của thọ, nguyên
nhân diệt mất của thọ, và con đường đưa đến diệt mất của thọ: “Này các Tỷ kheo, ở nơi đây Tỷ kheo khi cảm
giác lạc thọ, biết rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ"; khi cảm giác khổ
thọ, biết rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ"; khi cảm giác bất khổ bất lạc
thọ, biết rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ". Hay khi cảm giác
lạc thọ thuộc vật chất biết rằng: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật
chất". Hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi
cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất". Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật
chất, biết rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất". Hay khi cảm
giác khổ thọ không thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác khổ thọ không
thuộc vật chất". Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, biết
rằng: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất". Hay khi cảm
giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rằng: "Tôi cảm giác
bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".
Như vậy vị ấy sống quán thọ trên các
nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên cả các
nội thọ, ngoại thọ. Hay sống quán tánh sanh khởi trên các thọ; hay sống quán
tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có
thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến
chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật
gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ.”[18]
3.
Niệm Tâm
Tâm là mảnh đất nơi
phát sanh tất cả hành nghiệp thiện, ác của chúng sanh. Với tâm chứa đầy tham,
sân, và si sẽ dẫn chúng sanh đến với ác pháp. Với tâm từ, bi, hỷ, xả, không có
tham sân si, chúng sanh đã bước vào địa vị bậc thánh. Tu tập là một quá trình
diệt trừ tận gốc các ác pháp như tham, sân, si, mạng, tà kiến... đồng thời phát
triển các thiện pháp như giới, định, tuệ... đưa chúng ta vượt qua khổ đau, tiến
đến hạnh phúc. Tất cả các pháp này bắt nguồn từ tâm, sanh khởi từ tâm, vì vậy nếu
muốn tiêu diệt chúng hành giả phải nhận biết chúng khi vừa sanh khởi trong tâm.
Đây gọi là Niệm tâm.
Niệm tâm là phương pháp
tu tập không thể thiếu đối với bất cứ hành giả nào tu theo đạo Phật. Vì trong đạo
Phật, tu có nghĩa là tu tập tâm, huấn luyện tâm, nếu không biết sự sanh khởi của
tâm thì không thể nào tu được, cũng như người chăn trâu nếu không biết con trâu
như thế nào thì không thể chăn được. Đây là một trong những lý do tại sao nói: “đây là con
đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ
khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.”[19]
Thật
ra, hầu như mọi người ai cũng đều có ít nhiều thực hành niệm tâm rồi, tuy nhiên
nó chỉ xảy ra một cách ngẫu nhiên trong chốc lát và thỉnh thoảng trong hoàn cảnh
nhất định thôi. Trong khi đó nếu một hành giả theo Phật giáo tu tập niệm tâm
luôn luôn cố gắng nhận biết tâm mình càng nhiều càng tốt. Và sau đây là đoạn
kinh về Niệm tâm trong Tứ Niệm Xứ: “Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo: "Với tâm có tham, biết rằng tâm có
tham"; hay "Với tâm không tham, biết rằng tâm không tham"; hay
"Với tâm có sân, biết rằng tâm có sân"; hay "Với tâm không sân,
biết rằng tâm không sân"; hay "Với tâm có si, biết rằng tâm có
si"; hay "Với tâm không si, biết rằng tâm không si"; hay "Với
tâm thâu nhiếp, biết rằng tâm được thâu nhiếp"; hay "Với tâm tán loạn,
biết rằng tâm bị tán loạn"; hay "Với tâm quảng đại, biết rằng tâm được
quảng đại"; hay "Với tâm không quảng đại, biết rằng tâm không được quảng
đại"; hay "Với tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn"; hay "Với
tâm vô thượng, biết rằng tâm vô thượng"; hay "Với tâm có định, biết rằng
tâm có định"; hay "Với tâm không định, biết rằng tâm không định";
hay "Với tâm giải thoát, biết rằng tâm có giải thoát"; hay "Với
tâm không giải thoát, biết rằng tâm không giải thoát.”[20]
4.
Niệm Pháp
Chánh Pháp được Thế tôn
giảng dạy đòi hỏi người học thực hành và quán chiếu thật sâu mới có thể hiểu được.
Vì vậy niệm pháp là phương pháp tu tập trong đó hành giả thường nhớ nghĩ và
quán chiếu những giáo lý căn bản được đức Phật giảng dạy như Tứ Diệu Đế, Ngũ Uẩn,
Mười hai nhân duyên... Phương pháp này rất đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả
trong việc giúp người tu có được tri kiến đúng đắn đối với lời Phật dạy.
Trong kinh Niệm xứ, Niệm Pháp được nói đến đối với Năm triền cái, Ngũ
uẩn, Tứ đế, Thập nhị xứ, và Thất giác chi. Trong đó Năm triền cái thuộc pháp
bất thiện và Thất giác chi thuộc về pháp thiện, những pháp này được đức Phật
hướng dẫn quán chiếu khi chúng sanh khởi, an trú, và đoạn diệt trong tâm chúng
ta, vì vậy có thể xem chúng là nội Pháp. Về Ngũ uẩn, Tứ đế, và Mười hai xứ là
những pháp hữu vi tồn tại cả thế giới bên trong lẫn bên ngoài, theo một quy
luật hiển nhiên và nhất định, đòi hỏi một hành giả tu theo đạo Phật phải hiểu
rõ, vì vậy phải tư duy và thẩm sát. Dưới đây là đoạn trích Niệm pháp trong kinh
Niệm xứ: “Này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây,
*Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với năm triền cái. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi
có ái dục"; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi không
có ái dục". Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy;
và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục
đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri:
"Nội tâm tôi có sân hận"; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri:
"Nội tâm tôi không có sân hận". Và với sân hận chưa sanh nay sanh
khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy
tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi
nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri:
"Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên"; hay nội tâm không có hôn trầm
thụy miên, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên". Và với
hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn
trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn
trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri
như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: "Nội tâm tôi có trạo hối";
hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có trạo hối".
Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối
đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn
diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có
nghi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có nghi"; hay nội tâm không có nghi, tuệ
tri: "Nội tâm tôi không có nghi". Và với nghi chưa sanh nay sanh
khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ
tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy
tuệ tri như vậy.
Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các
nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các
nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay
sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các
pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ-kheo, thế nào là
Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo suy tư: "Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ,
đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập; đây là tưởng
diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức
tập, đây là thức diệt". Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp;
hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp,
ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán
tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có
những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng
đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một
vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các
pháp đối với năm thủ uẩn.
*Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán pháp trên các pháp đối với sáu
nội ngoại xứ. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các
pháp đối với sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo tuệ tri con mắt
và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như
vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết
sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được
đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Tỷ-kheo tuệ tri tai và tuệ tri các
tiếng... tuệ tri mũi và tuệ tri các hương... tuệ tri lưỡi... và tuệ tri các
vị... tuệ tri thân và tuệ tri các xúc, tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên
hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa
sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn
diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không
sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các
nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các
nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay
sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các
pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.
*Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy
Giác chi. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với Bảy Giác chi? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi,
tuệ tri: "Nội tâm tôi có niệm giác chi"; hay nội tâm không có niệm
giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có ý niệm giác chi". Và với
niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác
chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay Tỷ-kheo nội tâm có trạch pháp
giác chi... (như trên)... hay nội tâm có tinh tấn giác chi... (như trên)... hay
nội tâm có hỷ giác chi... (như trên)... hay nội tâm có khinh an giác chi...
(như trên)... hay nội tâm có định giác chi... (như trên)... hay nội tâm có xả
giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có xả giác chi"; hay nội tâm không có
xả giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có xả giác chi". Và với xả
giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã
sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các
nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các
nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay
sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các
pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán
pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
*Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị ấy sống
quán pháp trên các pháp đối với Bốn
Thánh đế. Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp
đối với Bốn Thánh đế? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như thật tuệ tri:
"Ðây là Khổ"; như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ tập"; như thật
tuệ tri: "Ðây là Khổ diệt"; như thật tuệ tri: "Ðây là Con đường
đưa đến Khổ diệt".
Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên
các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên
các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay
sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các
pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy,
với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống
quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.”[21]
III. TU TẬP TỨ NIỆM XỨ
Đọc qua nội dung chúng
ta đã hiểu một phần nào phương pháp tu tập Bốn niệm xứ, được dạy rõ trong các
kinh: Kinh đại niệm xứ, Kinh niệm xứ, Kinh thân hành niệm, và Kinh nhập xuất tức
xuất tức niệm. Đây là phương pháp tu tập phổ biến được các vị thiền sư hiện nay
giảng dạy ở các trường thiền khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi vị thiền sư
lại có những kinh nghiệm và quan điểm riêng của mình trong tu tập cho nên sự giảng
giải của các vị có phần khác nhau, vậy
khi tu tập tứ niệm xứ mỗi một hành giả phải cố gắng đọc nguyên bản các bài kinh
này để phát huy khả năng nhận thức độc lập trong mỗi người, biết đâu nhiều
người trong chúng ta có những khả năng đặc biệt trong nhận thức kinh Phật do từ
nhiều đời trước đã trồng các phước lành đối với Tam bảo. Còn lại, trong phần
này chúng tôi xin giới thiệu sơ về điều kiện tu tập Tứ niệm xứ và phương pháp
được giới thiệu rời rạc trong bốn bộ kinh Nikaya.
Tu tập Tứ niệm xứ thuộc
về định trong tam vô lậu học cho nên trước hết hành giả phải giữ giới thanh tịnh
và buông bớt các duyên. Mặc dù có nhiều người cho rằng không cần thiết phải tu
tập theo thứ tự Giới, Định và Tuệ, tuy vậy nếu muốn phát triển tam vô lậu học
đi đến viên mãn thì trước tiên nên xây dựng nền tảng giới cho thật vững chắc, nếu
không thì khó mà tu tập định (Bốn niệm xứ):
“Ở đây, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn
(Pàtimokkha), đầy đủ uy nghi chánh hạnh (àcàragocarasampanno), thấy sự nguy hiểm
trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Tỷ-kheo, sau
khi sống, hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự
nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới rồi,
này Tỷ-kheo, y cứ trên giới, an trú trên giới, hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào
là bốn?
Ở
đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên thân... Hãy trú, quán thọ trên
các cảm thọ... Hãy trú, quán tâm trên tâm... Hãy trú, quán pháp trên các pháp,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Khi
nào, này Tỷ-kheo, Ông y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập bốn niệm xứ; khi
ấy, này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi Ông sự tăng trưởng
trong các thiện pháp, không phải sự tổn giảm.”[22]
Trong cuộc sống, để
hoàn thành bất cứ một công việc gì chúng ta phải tập trung tất cả tâm lực vào
đó, không nên để bị chi phối bởi những công việc khác. Đối với tu tập Tứ niệm xứ
cũng vậy, là một công việc hết sức khó khăn cho nên phải dành tất cả thời gian
cho nó, thậm chí những sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, ngủ nghỉ cũng phải nên
đơn giản: “Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo,
vị Tỷ-kheo thực hành Niệm hơi thở vô hơi thở ra, không bao lâu thể nhập vào bất
động. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn không có nhiều, công
việc không có nhiều, nuôi sống dễ
dàng, khéo tri túc với những nhu yếu ở đời, ăn uống ít, không chuyên lo về
bao tử; ít thụy miên, chuyên chú
trong giác tỉnh; nghe nhiều, thọ trì nhiều, tích lũy điều đã nghe; các pháp nào
sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn
toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp ấy, Tỷ-kheo đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã
ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến;
quán sát tâm như đã được giải thoát.
Thành
tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thực hành Niệm hơi thở vô hơi thở
ra, không bao lâu thể nhập vào bất động.”[23]
Tứ niệm xứ bao gồm cả
thiền định và tuệ, vì vậy khi tu tập tứ niệm xứ đầy đủ có thể phát triển tuệ để
đạt đến liễu tri thân, thọ, tâm, và pháp: “Này
các Tỷ-kheo, có những Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách. Các vị ấy trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt tâm để liễu tri về thân. Các vị ấy trú, quán thọ trên
các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác,chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhứt
tâm để liễu tri về
thọ. Các vị ấy trú, quán tâm trên tâm...để liễu tri về tâm. Các vị ấy trú, quán pháp trên
pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chuyên chú, với tâm thanh tịnh, định tĩnh, nhất tâm
để liễu tri về
các pháp.”[24]
Với mục đích
giúp hành giả có chánh trí như thật đối với thân, thọ, tâm và pháp, trong
chương Tương ưng niệm xứ thuộc Tương ưng bộ kinh V, đức Phật dạy hành giả tu
tập Tứ niệm xứ theo cách khác đó là quán chiếu sự tập khởi và đoạn diệt của bốn
xứ: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tu
tập bốn niệm xứ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán tánh tập
khởi trên thân; trú, quán tánh đoạn diệt trên thân; trú, quán tánh tập khởi và
tánh đoạn diệt trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu
ở đời. Vị ấy trú, quán tánh tập khởi trên các cảm thọ; trú, quán tánh đoạn diệt
trên các cảm thọ; trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt trên các cảm thọ...
trú, quán tánh tập khởi trên tâm... trú, quán tánh tập khởi trên các pháp; trú,
quán tánh đoạn diệt trên các pháp; trú, quán tánh tập khởi và tánh đoạn diệt
trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tu tập bốn niệm xứ...
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự tập khởi của thân?
Sự tập khởi của món ăn là sự tập khởi của thân. Sự đoạn diệt các món ăn là sự
đoạn diệt của thân.
Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Sự đoạn
diệt của xúc là sự chấm dứt của thọ.
Sự tập khởi của danh sắc là sự tập khởi của tâm. Sự
đoạn diệt của danh sắc là sự chấm dứt của tâm.
Sự tập khởi của tác ý là sự tập khởi của các pháp. Sự
đoạn diệt của tác ý là sự chấm dứt của các pháp.”[25]
Tóm lại, để tu tập tứ niệm xứ đạt được cứu cánh giải thoát, trước hết nên
nghiêm trì giới luật, giữ gìn oai nghi và thận trọng đối với các lỗi nhỏ nhặt,
đồng thời nên tránh bớt ngoại duyên.
Bên cạnh tu tập theo các kinh niệm xứ, hành giả cũng có thể quán chiếu tập khởi
và đoạn diệt của bốn xứ như trong niệm pháp.
IV. KẾT LUẬN
Tứ niệm xứ là bài pháp vô cùng quan trọng, bao trùm toàn bộ pháp hành
trong Phật pháp, vì vậy khi nào còn người thực hành Tứ niệm xứ khi đó Phật pháp
còn, khi nào không còn ai tu tập Bốn niệm xứ khi đó Phật pháp không còn nữa: “Do bốn niệm
xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Hiền giả, khi Như Lai
nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do bốn niệm xứ được tu tập,
được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được
tồn tại lâu dài.”[26]
Tuy nhiên, Tứ niệm xứ là pháp hành, vì vậy đòi hỏi hành giả phải thực
hành mới hiểu rõ pháp này. Trong quá trình thực hành, hành giả cần phải tư duy
quán xét để xem sự tu tập của mình đã đúng hay chưa, luôn luôn phải áp dụng đầy
đủ văn, tư, và tu để tránh sai lạc.
Bản tính của phàm phu là chấp thủ, hễ
người thầy nào có tiếng tăm giảng dạy như thế nào thì liền nghe như vậy, không
hề suy nghĩ liệu những người thầy đó dạy có đúng với lời Phật dạy hay không,
liệu những lời dạy đó có đưa ta đến xa lìa tham, sân, và si hay không?
Trong bài viết này chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát về Bốn
niệm xứ, đồng thời tổng hợp ý nghĩa của bài pháp này trong toàn bộ kinh Nikaya
để giúp hành giả hiểu một phần nào bài pháp này, trong khi tìm hiểu và tu tập
hành giả nên đọc kỹ lại các bản kinh: Kinh
niệm xứ, Kinh thân hành niệm, và Kinh nhập tức xuất tức niệm.
[1]
Kinh trường bộ I, kinh đại bát Niết bàn, trang 584
[2]
Kinh trường bộ II, Kinh đại niệm xứ, trang 185
[3]
Kinh trường bộ I, kinh đại bát Niết bàn, trang 558
[4]
Kinh tương ưng bộ V, tương ưng niệm xứ, trang 280
[5]
Kinh tương ưng bộ V, tương ưng niệm xứ, trang 285
[6]
Xem kinh Thân hành niệm, trung bộ kinh III, trang 265
[7]
Kinh trung bộ III, kinh thân hành niệm, trang 265
[8]
Xem kinh Nhập xuất tức xuất tức niệm, kinh Trung bộ III, trang 249
[9]
Kinh tương ưng bộ V, tương ưng Hơi thở vô hơi thở ra, trang 486
[10]
Kinh trung bộ III, kinh Nhập tức xuất tức niệm, số 118, trang 249
[11] Kinh Trung bộ II, Kinh
Brahmayu, số 91
[12]
Kinh Trung bộ III, Kinh thân hành niệm, trang 265
[13]
Kinh tương ưng bộ V, tương ưng niệm xứ, trang 266
[14]
Kinh tăng chi bộ III, phẩm từ, trang 510
[15]
Kinh trung bộ III, kinh thân hành niệm, số 119
[16]
Kinh trung bộ III, Kinh thân hành niệm, số 119
[17]
Kinh trung bộ III, Kinh thân hành niệm, trang 265
[18]
Kinh trường bộ I, kinh đại niệm xứ, số 22
[19]
Kinh trung bộ I, kinh niệm xứ, số 10
[20]
Kinh trường bộ I, kinh đại niệm xứ, số 22
[21]
Kinh trung bộ I, Kinh niệm xứ, số 10
[22]
Kinh tương ưng bộ V, tương ưng niệm xứ, trang 292
[23]
Kinh tăng chi bộ III, phẩm nghe pháp, trang 503
[24]
Kinh tương ưng bộ V, tương ưng niệm xứ, trang 225
[25]
Kinh tương ưng bộ v, tương ưng niệm xứ, trang 288
[26]
Kinh tương ưng bộ V,tương ưng niệm xứ, trang 270
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét