Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

bát thánh đạo

BÁT THÁNH ĐẠO
I. MỞ ĐẦU
Hiện nay, bất cứ người nào có tìm hiểu một ít về đạo Phật, đều thấy rằng có rất nhiều trường phái tu hành được mệnh danh là Phật giáo đang phổ biến trên thế giới. Và dĩ nhiên tất cả các trường phái đều cho là mình đúng trên tinh thần Phật dạy, nếu không muốn tranh cãi với những trường phái khác thì họ cho rằng mỗi người có một căn cứ khác nhau, và những gì Phật dạy có tới tám mươi bốn ngàn pháp môn nên mỗi người có thể tùy ý chọn cho mình một pháp môn phù hợp. Lâu nay chúng tôi vẫn luôn nghi ngờ về câu nói quen thuộc này cho đến một hôm tôi đọc một đoạn kinh Nikaya, trong đó ngài Anan xác nhận rằng tất cả những gì ngài nghe được từ kim khẩu đức Phật tổng cộng có tám vạn bốn ngàn pháp môn, rất tiếc chúng tôi vẫn chưa tìm lại được nó ở đoạn nào. Tuy nhiên, chúng ta đều chắc chắn rằng tất cả những gì ngài Anan nghe được và đọc lại không ngoài năm bộ Nikaya, dựa trên những phát hiện của các nhà khoa học lịch sử, khảo cổ, và ngôn ngữ học, và dựa trên niềm tin và trí tuệ của chúng ta đối với Phật Pháp khi đọc những bản kinh này và đối chiếu với những bản kinh khác.
Đọc toàn bộ bản kinh Nikaya, sẽ cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về đức Phật, các vị đệ tử của ngài, và đời sống sinh hoạt của họ khi ngài còn tại thế, giúp chúng ta thấy được một cách chính xác phương pháp tu chứng mà các vị Thánh đệ tử đã đi qua, từ đó chúng ta sẽ xác định được những pháp môn tu hành mà ngài Anan nghe được là gì, và tránh bị nhầm lẫn với những pháp môn ngoại giáo. Quả thật, vào thời đức Phật không phải ai cũng tu tập như nhau để chứng ngộ Niết bàn mà có những vị tu tập theo đề mục này có những vị tu tập theo đề mục khác, có những vị giải thoát nhờ quán bất tịnh, có những vị chứng ngộ nhờ niệm hơi thở vô hơi thở ra… tuy nhiên tất cả những pháp môn đó không ra ngoài đạo lộ Bát Thánh Đạo. Đây là con đường duy nhất giúp cho chúng sanh diệt trừ khổ ưu, chấm dứt sầu bi, chứng ngộ Niết bàn và chỉ ở đâu có Bát Thánh Đạo ở đó mới có các quả vị Thánh: 1. Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotàpatti); 2. Nhị quả -đà-hàm (Sakadàgàmì); 3. Tam quả A-na-hàm (anàgàmì); 4. Tứ quả A-la-hán(Arahanta): “Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có (đệ nhất) Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo thời ở đây có (đệ nhứt) Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Đạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán”[1].
Vì vậy, Bát Thánh Đạo là một giáo lý rất quan trọng và vô cùng thiết yếu trong tư tưởng đạo Phật. Điều đó đòi hỏi tất cả chúng ta, những người muốn tìm hiểu về đạo Phật, những hành giả muốn “làm rạng dòng Thánh, chứng nhiếp ma quân, để báo bốn ơn, cứu giúp ba cõi”, phải tìm hiểu một cách trung thành và thấu đáo giáo lý này.
II. NỘI DUNG
Ngôn ngữ là những tín hiệu được tạo ra để trao đổi thông tin và truyền tải tình cảm. Con người càng văn minh thì ngôn ngữ càng phát triển đa dạng và phong phú. Ban đầu, các từ hay cụm từ trong ngôn ngữ thường chỉ có một nghĩa (nghĩa chính), sau đó nó có hai nghĩa rồi đến nhiều nghĩa (nghĩa phụ). Trong mỗi lĩnh vực, tư tưởng, trường phái… khác nhau, từ và cụm từ trong ngôn ngữ mang ý nghĩa khác nhau. Do đó mỗi ngành khoa học thường có một bộ tự điển riêng để giải thích ý ngôn ngữ theo cách sử dụng của họ. Ngôn ngữ trong những lời dạy của Phật cũng rất phong phú và mang những ý nghĩa riêng biệt của nó, và chủ yếu là do chính đức Phật đặt ra. Vì vậy, khi nghiên cứu giáo lý Bát Thánh Đạo, chúng ta phải tuyệt đối trung thành với những định nghĩa trong kinh Nguyên Thủy để có thể nắm bắt được những lời dạy của Phật một cách chính xác.
1. Chánh Kiến
Có thể nói rằng không có một tôn giáo nào trên thế giới này lại đề cao nhận thức của con người như Phật giáo. Có lẽ, vì nhận thức chính là tinh hoa của con người, nó phản ánh mức độ tiến hóa trong mỗi cá nhân, và quy định đời sống của cá nhân đó. Trong một xã hội càng văn minh, ở đó nhận thức của con người càng cao. Nhận thức càng cao thì những quan điểm lạc hậu, những hủ tục… càng ít, hiểu biết của con người càng phù hợp với thực tại và thiết thực hơn. Trong đạo Phật, những nhận thức chính xác và hiểu biết đúng đắn được gọi là Chánh Kiến.
Theo định nghĩa thông thường, thì Chánh có nghĩa là chân chánh, đúng đắn, chính xác, không thiên vị; Kiến có nghĩa là hiểu biết, thấy, nhận thức. Như vậy, Chánh Kiến có nghĩa đơn thuần là sự hiểu biết, nhận thức đúng đắn. Thông thường, mỗi người có một khả năng nhận thức khác nhau tùy theo mức độ hiểu biết của chính mình, và mức độ đúng sai trong nhận thức của họ từ đó có khác nhau, người càng học sâu hiểu rộng thì mức độ sai trong nhận thức càng giảm. Tuy vậy, đa số con người không thấy cái sai của mình để chấp nhận cái đúng từ người khác, như con cá dưới nước không bao giờ chấp nhận một thế giới trên cạn như mô tả của con rùa. Nếu một người có trí, biết quan sát sẽ thấy hầu như mọi người không ít thì nhiều đều có những kiến chấp sai lầm, có sai lầm nghiêm trọng, có sai lầm không nghiêm trọng, có những nhận thức sai đưa xuống địa ngục, có những nhận thức sai thì không… Để loại bỏ những nhận thức sai (tà kiến) thì đòi hỏi chúng ta phải có những nhận thức đúng (Chánh kiến).
Tất cả những hành nghiệp của chúng ta đều bị chi phối bởi nhận thức, nếu nhận thức đúng thì sẽ đưa đến hành động đúng, nếu nhận thức sai sẽ tạo ra hành động sai. Một người có nhận thức đúng thì lời nói và việc làm đều thiện, người có nhận thức sai lầm thì lời nói và việc làm đều bất thiện. Vì vậy, nhận thức là yếu tố rất quan trọng trong mỗi chúng ta, nó quy định số phận của mỗi người: “Đối với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý, đưa đến bất hạnh, đau khổ. Vì cớ sao? Vì tánh ác của kiến. này các Tỷ-kheo. Ví như, này các Tỷ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỷ-kheo. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của kiến, này các Tỷ-kheo.
Đối với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của kiến, này các Tỷ-kheo. Ví như, này các Tỷ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngọt, thích ý, tánh ngon ngọt của nó. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của hột giống. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh hiền thiện của kiến, này các Tỷ-kheo.”[2]
Bất cứ một sự hiểu biết nào đúng thực tế, phù hợp với luân lý đạo đức đều được gọi là Chánh kiến. Khi chúng ta nhìn một sự vật đang thay đổi chúng ta biết chúng đang thay đổi, đó là chánh kiến, khi “thấy mắt vô thường là vô thường, thấy vậy là chánh tri kiến…”[3] Theo những lời Phật dạy trong kinh Nguyên thủy, có hai loại Chánh Kiến: Chánh kiến hữu lậu và Chánh kiến vô lậu. Chánh Kiến hữu lậu là những nhận thức đúng đắn giúp cho con người khỏi rơi vào ba đường ác và được hưởng phước trời, người. Người có Chánh kiến hữu lậu, bên cạnh có nhận thức đúng đắn, những luân lý đạo đức, văn minh xã hội, hiểu rõ luật nhân quả, đồng thời họ phải chấp nhận sự có mặt của những vị tu hành chân chánh với những khả năng đặc biệt: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Có bố thí, có cúng dường, có tế tự, có quả báo các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời khác, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh; ở đời có các vị Sa-môn, Bà-la-môn, chánh hướng, chánh hạnh, sau khi với thượng trí tự mình chứng đạt đời này và đời khác lại tuyên bố lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh kiến hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y.”[4]
Sau khi hiểu rõ những quy luật đạo đức, luân lý xã hội, luật nhân quả… chúng ta cần phải tiến thêm một bước nữa để hiểu sâu hơn những vấn đề trong cuộc sống. Bước tiến này giúp chúng ta vượt ra khỏi khổ đau hoàn toàn. Đó là Chánh kiến vô lậu, siêu thế, Tuệ trong tam vô lậu học, Tuệ căn, Tuệ lực, là những sự hiểu biết rõ ràng về các vấn đề cốt lõi trong Phật Pháp, sẽ đưa chúng ta bước vào dòng Thánh: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh kiến thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc trí tuệ, tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm. Chánh kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.”[5]
Thông thường, khi nói đến Chánh kiến, đức Phật thường chỉ nói đến Chánh kiến vô lậu, có rất ít bài kinh nói đến cả chánh kiến vô lậu và hữu lậu như trong Đại kinh bốn mươi. Vì vậy, khi nói đến Chánh kiến nhưng không thấy đề cập đến vô lậu hay hữu lậu thì chúng ta hiểu ngầm rằng đức Phật đang nói đến chánh kiến vô lậu. Khi có được Chánh kiên vô lậu, tức là chúng ta đã có được sự chứng ngộ nào đó trên con đường đến Niết bàn, như hiểu rõ Tứ diệu đế, hiểu rõ bốn món ăn, hay hiểu rõ Duyên khởi… đều được gọi là có Chánh kiến vô lậu, đã có được niềm tin Pháp tuyệt đối, và sẽ thành tựu được diệu pháp này: “Chư Hiền, chánh tri kiến, chánh tri kiến, được gọi là như vậy. Chư Hiền, cho đến như thế nào, một Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?...
 Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bản bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bản thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này… Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Đoạn diệt của khổ, tuệ tri con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sanh, tuệ tri tập khởi của sanh, tuệ tri đoạn diệt của sanh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu, tuệ tri tập khởi của hữu, tuệ tri đoạn diệt của hữu, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri tập khởi của thủ, tuệ tri đoạn diệt của thủ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, khi ấy Thánh đệ tử có Chánh Tri kiến... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái, tuệ tri tập khởi của ái, tuệ tri đoạn diệt của ái, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái, khi ấy Thánh đệ tử có Chánh Tri kiến... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ, tuệ tri tập khởi của thọ, tuệ tri đoạn diệt của thọ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc, tuệ tri tập khởi của xúc, tuệ tri đoạn diệt của xúc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến và thành tựu diệu pháp này. Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập, tuệ tri tập khởi của sáu nhập, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này… Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc, tuệ tri tập khởi của danh sắc, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này… Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức, tuệ tri tập khởi của thức, tuệ tri đoạn diệt của thức, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành, tuệ tri tập khởi của hành, tuệ tri đoạn diệt của hành, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này… Chư Hiền, có thể có.
 Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh, tuệ tri tập khởi của vô minh, tuệ tri đoạn diệt của vô minh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, khi ấy, Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này…
 Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc. Chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này…”[6]
2. Chánh Tư Duy
Tư duy là trạng thái hoạt động của ý thức xảy ra khi ý căn tiếp xúc với ý trần (bóng của hình ảnh, âm thanh, mùi vị… được lưu giữ trong tâm). Cũng giống như mắt khi thấy một vật đáng ưa thì cứ muốn nhìn hoài, chúng ta sẽ liên tục tư duy về điều gì đó khi bị một sức hút từ đối tượng của ý hay một áp lực nào đó từ bên ngoài. Vì vậy, tư duy thường xảy ra theo thói quen và chúng ta thường ít có khả năng làm chủ tư duy của mình. Điều này sẽ dễ thấy ở một số người bị bệnh trầm cảm, một trạng thái tư duy quá mức, không thể thư giãn được, nguyên nhân chính của nó là do áp lực công việc.
Vì tính chất bị thu hút bởi đối tượng nên tư duy của chúng ta thường là không chính đáng, vì nó càng khiến cho chúng ta chìm sâu trong nhận thức hữu ngã, tăng trưởng tham, sân, và si. Tuy vậy, có những lúc bị tác động bởi sự biến đổi nhanh chóng của vạn vật xung quanh như sự ra đi của người thân, những thảm họa do thiên tai... khiến con người tư duy về sự thật ngắn ngủi của cuộc sống dẫn đến không còn ham muốn gì nữa, đây lại là chánh Tư duy mặc dù do ngoại cảnh tác động. Như vậy “thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tư duy.”[7]
Ngoại trừ gặp trường hợp do đau thương tác động buộc ta phải trầm tư, hay được thúc đẩy bởi những yếu tố tích cực nào đó khiến chúng ta tư duy để tìm giải pháp nhằm giúp đỡ tha nhân, để hòa giải, để đưa người khác về nẻo thiện… khi chúng ta tư duy về Duyên Khởi, Tứ Đế… để giúp chúng ta thấy rõ chánh pháp bước vào dòng Thánh, hay đạt được lậu tận… cũng được gọi là Chánh tư duy nhưng thuộc về vô lậu: “Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy, như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh tư duy, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tư duy, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Phàm cái gì này các Tỷ-kheo thuộc suy tư, tầm cầu, tư duy, một ngữ hành do sự hoàn toàn chú tâm chuyên tâm của một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Thánh tâm; chánh tư duy như vậy, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.”[8]
Chánh tư duy thuộc về tuệ trong Tuệ uẩn, cho nên Chánh tư duy vô lậu thường là tư duy các pháp giải thoát, đó chính là thiền quán trong thiền Phật giáo hay niệm Pháp trong Tứ niệm xứ: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Đa văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy định lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”. Ví như do duyên vô minh, các hành sanh khởi. Do duyên hành, thức sanh khởi... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.”[9]
“Khi các Ông suy tầm, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tầm: “Đây là khổ”... hãy suy tầm: “Đây là Khổ tập”... hãy suy tầm: “Đây là Khổ diệt”... hãy suy tầm: “Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao?
    Các suy tầm ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, chúng là căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”[10]
3. Chánh Ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện trao đổi thông tin và tình cảm của con người. Ngôn ngữ giúp con người phát triển trí tuệ, hiểu biết, quan hệ, làm giàu cảm xúc… Ngôn ngữ có khi mang lại hạnh phúc cho con người nhưng cũng có lúc mang lại đau thương, có khi làm cho con người khôn ngoan hơn nhưng cũng lắm khi làm chúng ta ngu đần đi. Nhiều khi ngôn ngữ mang lại hòa bình cho nhân loại nhưng không thiếu lúc lại gây ra đấu tranh, xung đột… Như vậy, ngôn ngữ là “con dao hai lưỡi”, có vai trò hết sức quan trong đối với loài người. Tuy nhiên, ngôn ngữ chỉ là một công cụ vô tri do con người tạo ra nhằm phục vụ lợi ích của nhân loại. Do đó, nếu con người biết vận dụng, ngôn ngữ sẽ là một phương tiện hữu hiệu mang lại vô vàn lợi ích từ trong cuộc sống bình thường cho đến địa vị giải thoát. Ngược lại, ngôn ngữ sẽ là một vũ khí vô cùng nguy hiểm có thể tiêu diệt nhân loại. Cho nên chúng ta cần phải biết cách vận dụng ngôn ngữ nhằm hạn chế những tác hại đồng thời phát huy hết tác dụng của nó. Muốn vậy, chúng ta phải biết chọn nói những lời đem lại lợi ích cho mình và cho người, không nói những lời đem lại khổ đau cho mình và cho người, nói những lời có ích, không nói những lời vô ích. Đó gọi là những lời nói có Chánh ngữ: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.”[11]
Trong thời đại thông tin toàn cầu, mọi người có nhiều phương tiện để chia sẽ, trao đổi, truyền đạt quan điểm và tư tưởng của mình như truyền thanh, truyền hình, báo chí, mạng xã hội, điện thoại… do đó vấn đề sử dụng những lời nói chân chánh cần phải được vận dụng. Nếu không, những tác động tiêu cực của lời nói đối với mình và xã hội sẽ rất lớn: có nhiều bạn trẻ phải tự tử vì bị dân mạng “ném đá”, nhiều người bị bỏ tù vì viết blog chống chế độ, nhiều nhóm lợi ích tuyên truyền sai sự thật để bảo vệ quyền lực của mình…
Đối với cá nhân, nếu nói lời không chân thật, nói lời hai lưỡi, lời thô ác, hay lời vô ích, dù cho những lời nói đó không hại ai nhưng nó lại thể hiện bản thân người đó là một người thiếu năng lực trí tuệ, dũng khí, thiếu tình thương và nhẫn nại... Nếu những lời nói đó gây hại cho người khác thì những người đó có tâm địa độc ác, nham hiểm, lắm mưu mô xảo quyệt... Và dĩ nhiên, trong cuộc sống cũng như xã hội, người đó thật khó thành công, trong nấc thang tiến hóa, người đó đang đi thụt lùi về cả tâm thức và trí tuệ.
Đối với tập thể, bất kể đó là tổ chức tôn giáo hay tổ chức chính trị, lời nói chân thật phải luôn được tôn trọng và khuyến khích. Điều đó sẽ thể hiện dũng khí, sức mạnh và trí tuệ của tập thể đó. Nếu chúng ta cố tình bưng bít hay xuyên tạc sự thật, nó thể hiện bản thân tập thể đó là những người lừa dối, thiếu năng lực, sợ hãi, không có mong muốn thay đổi để tốt hơn. Trong giới luật của nhà Phật, một người tu hành nếu phạm phải những sai lầm đều phát lồ (nói lên lỗi lầm của mình trước người khác hay tập thể), điều đó giúp họ ngăn chặn khỏi tái phạm những sai lầm đó nữa.
Như vậy, lời nói chân thật có một giá trị rất quan trọng trong xã hội loài người. Tuy nhiên, lời nói chỉ là biểu hiện ra bên ngoài từ nội tâm. Nếu muốn có những lời nói có giá trị đòi hỏi chúng ta phải luôn tư duy, rèn luyện đạo đức và không ngừng học hỏi, càng có nhiều trí tuệ và đạo đức lời nói của chúng ta càng có nhiều lợi ích. Như đức Phật, lời nói của ngài luôn luôn đem lại lợi ích cho nhiều người và nhiều thế hệ.
4. Chánh Nghiệp
Bên cạnh lời nói, việc làm cũng là một sản phẩm của ý, được biểu hiện bằng hành động của thân, phân thành hai loại: hành động bất thiện được gọi là Tà nghiệp và hành động thiện được gọi là Chánh nghiệp. Như vậy, loại trừ những hành động bất thiện, còn lại được gọi là Chánh nghiệp. Những hành động thuộc chánh nghiệp thì vô số, nhưng có ba hành động quan trọng: “Này chư Hiền, thế nào là chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cắp, tự chế không tà dâm. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh nghiệp.”[12]
Từ ba hành động trên chúng ta có thể hiểu rộng hơn về Chánh nghiệp như là không làm những hành động tổn hại đến sinh vật xung quanh, không xâm phạm đến tài sản của người khác, và không xâm phạm đến thân thể của người khác. Những điều này bao gồm không làm ô nhiễm môi trường, không sử dụng chất độc hại để chăn nuôi, trồng trọt hay sản xuất thực phẩm, không tham nhũng, không trốn thuế, không quan hệ bất chính với người khác…
Từ định nghĩa thông thường được nêu trên, có khi đức Phật định nghĩa Chánh nghiệp rõ ràng hơn bằng cách phân thành hai loại chánh nghiệp đó là chánh nghiệp hữu lậu và chánh nghiệp vô lậu: “Có loại chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có loại chánh nghiệp, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp thuộc hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Viễn ly sát sanh, viễn ly lấy của không cho, viễn ly tà hạnh trong các dục; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh nghiệp, thuộc hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh nghiệp, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo, thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly ba thân ác hành đối với một vị tu tập Thánh đạo, thành thục trong Thánh đạo, có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh nghiệp, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi”[13]
Như vậy, đối với người tại gia, chánh nghiệp gồm giữ gìn ba nghiệp nơi thân: từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, và từ bỏ tà dâm. Tuy nhiên, đối với người xuất gia tu tập Thánh đạo, muốn giải thoát sanh tử luân hồi, không chỉ từ bỏ sát sanh, trộm cắp, và tà dâm mà phải từ bỏ tất cả những hành vì làm tổn hại đến sinh linh, liên quan đến tham ái như không được làm tổn thương cây cỏ, không được đào đất, không được buôn bán, không được nắm giữ tiền bạc, không được đụng chạm thân phụ nữ…
5. Chánh Mạng
Hầu hết mọi người trên cuộc đời này đều phải kiếm sống và có một nghề nào đó để tự tồn tại. Có những người sống bằng nghề lương thiện, có những người sống trên mồ hôi nước mắt của người khác, sống bằng đâm thuê chém mướn, sống bằng lừa đảo… có công việc đem lại lợi ích cho mình và người, có những nghề trực tiếp gây hại cho mình và người khác, cũng có những nghề chỉ gián tiếp hoặc chỉ trong suy nghĩ có hại cho người khác. Khi làm công việc có lợi cho mình và người được gọi là Chánh mạng, ngược lại như buôn bán dao kiếm, vũ khí giết người, ma túy, rượu… được gọi là Tà mạng: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.”[14]
Chánh mạng thuộc về giới uẩn trong Giới, Định và Tuệ, tuy nhiên khi chúng ta giử gìn chánh mạng, điều này không chỉ giúp chúng ta ngưng tạo ác nghiệp nơi thân và miệng, mà nó còn giúp ngăn ngừa ý suy nghĩ bất thiện. Vì, nếu chúng ta sống bằng Tà mạng như bán rượu, chúng ta luôn mong rằng có nhiều người uống rượu để mình bán…
Đối với người sống đời sống gia đình, cần phải có một nghề nghiệp chân chánh để nuôi bản thân và quyến thuộc. Đối với người xuất gia, để nuôi mạng sống một cách chân chánh nhất đó là mang bát đi xin ăn, ngủ dưới gốc cây, dùng nước tiểu làm thuốc, và lượm vải bỏ làm áo che thân: “Này các Tỷ-kheo, có bốn pháp này là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi. Thế nào là bốn? Trong các loại y, này các Tỷ-kheo, y phấn tảo (y lượm từ đống rác) là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi. Trong các loại đồ ăn, này các Tỷ-kheo, khi khất thực từng miếng là không quan trọng, dễ được và không vi phạm. Trong các sàng tọa, này các Tỷ-kheo, gốc cây là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi. Trong các loại dược phẩm, này các Tỷ-kheo, nước đái quỉ là không quan trọng, dễ được và không có phạm lỗi.
Bốn loại, này các Tỷ-kheo, không quan trọng dễ được, không có phạm lỗi này, nếu Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, biết đủ, với các loại không quan trọng dễ được này, Ta tuyên bố rằng đây là một trong những chi phần của Sa-môn hạnh.”[15]
Như vậy, có hai loại Chánh mạng là chánh mạng hữu lậu và chánh mạng vô lậu, chánh mạng đưa đến phước báo trong luân hồi sanh tử và chánh mạng vượt ra ngoài ba cõi: “Chánh mạng, này các Tỷ-kheo, Ta nói có hai loại: có loại chánh mạng, này các Tỷ-kheo, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y; có chánh mạng, này các Tỷ-kheo, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi. Và thế nào, này các Tỷ-kheo là chánh mạng, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử bỏ tà mạng, nuôi sống với chánh mạng, như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh mạng, hữu lậu, thuộc phước báo, đưa đến quả sanh y. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh mạng, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi? Cái gì, này các Tỷ-kheo thuộc về từ bỏ, từ đoạn, từ khước, viễn ly tà mạng đối với một vị tu tập Thánh đạo, thuần thục trong Thánh đạo. Có vô lậu tâm, có Hiền Thánh tâm; như vậy, này các Tỷ-kheo là chánh mạng, thuộc bậc Thánh, vô lậu, siêu thế, thuộc đạo chi.”[16]
6. Chánh Tinh Tấn
Tinh Tấn có nghĩa là nỗ lực, cố gắng, kiên trì, siêng năng, cần cù, chịu khó. Khi chúng ta cố gắng làm các điều thiện và bỏ các điều ác, gọi là Chánh Tinh Tấn. Nỗ lực từ bỏ thân làm ác, tu tập thân làm thiện, nỗ lực từ bỏ lời nói ác, tu tập lời nói thiện, nỗ lực bỏ ý nghĩ ác và tu tập ý nghĩ thiện, đó là Chánh tinh tấn: “Ai tinh tấn đoạn trừ tà mạng, thành tựu chánh mạng; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy.”[17]
Trong quá trình tu tập để đạt đến giải thoát, đòi hỏi một sự nỗ lực liên tục, không gián đoạn. Những pháp thiện chúng ta đang tu tập phải đi đến viên mãn, nếu bỏ dỡ giữa chừng thì sẽ uổng phí thời gian để tu tập lại từ đầu. Ngoài ra, không chỉ đoạn trừ pháp ác đã sanh mà còn phải không cho sanh khởi những pháp ác chưa sanh. Như vậy, Chánh tinh tấn trong Bát Thánh đạo chính là Tứ chánh Cần: “Này chư Hiền, và thế nào là chánh tinh tấn? Này chư Hiền, ở đây Tỷ-kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Đối với cái ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Đối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Đối với các thiện pháp đã sanh khởi, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này chư Hiền, như vậy gọi là chánh tinh tấn.”[18]
7. Chánh Niệm
Niệm có nghĩa là nhớ nghĩ, ức niệm, không quên những điều đã học hay đã gặp qua. Niệm còn có nghĩa là tư niệm, tư duy, suy nghĩ về một vấn đề gì đó nhằm hiểu rõ nó như Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tăng... Khi an trú tâm vào phút giây hiện tại cũng được gọi là niệm. Với người tâm bị vô minh che lấp, tham ái trói buộc, ý căn thường tiếp xúc với các pháp trần khả ý, khả lạc, tâm sanh hân hoan, tiếp xúc với các trần bất khả ý, bất khả lạc tâm sanh sân hận, đây gọi là tà niệm. Khi tâm hướng đến các pháp tu tập và quán chiếu nhằm lìa tham, sân, si đây gọi là Chánh Niệm.
Mặc dù khi tâm hướng đến các thiện pháp đều có thể được gọi là chánh niệm, nhưng ở đây đức Phật định nghĩa về Chánh niệm ngài thường nói đó niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, và niệm Pháp: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.”[19]
8. Chánh Định
Định là một trạng thái tâm chuyên chú vào một đối tượng, không bị phân tán, không bị tán loạn. Tuy nhiên, khi tâm chuyên chú vào đối tượng mà tham, sân, và si tăng trưởng được gọi là tà định, ngược lại gọi là chánh định. Chánh định phải là trạng thái tâm ở bốn thiền: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh, nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh định.”[20]
III. PHƯƠNG PHÁP TU TẬP BÁT THÁNH ĐẠO
Bát Thánh đạo được sắp xếp theo thứ tự thông thường bắt đầu bằng chánh kiến. Đây không phải là một sự ngẫu nhiên mà do sắp xếp, vì tính chất quan trọng của nó: “Ở đây, này các Tỷ-kheo chánh kiến đi hàng đầu. Và thế nào, này Tỷ-kheo, chánh kiến đi hàng đầu? Chánh tư duy, này các Tỷ-kheo, do chánh kiến, được khởi lên. Chánh ngữ do chánh tư duy được khởi lên. Chánh nghiệp do chánh tà ngữ được khởi lên. Chánh mạng do chánh nghiệp được khởi lên. Chánh tinh tấn do chánh mạng được khởi lên. Chánh niệm do chánh tinh tấn được khởi lên. Chánh định do chánh niệm được khởi lên. Chánh trí do chánh định được khởi lên. Chánh giải thoát do chánh trí được khởi lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đạo lộ của vị hữu học gồm có tám chi phần và đạo lộ của vị A-la-hán, gồm có mười chi phần.”[21]
Như con trâu đực đầu đàn, nếu đi đúng hướng thì những con đi sau sẽ đi theo đúng hướng, nếu đi lạc hướng thì những con sau cũng lạc theo. Chánh kiến thể hiện trí tuệ của một hành giả, nó sẽ quyết định sự tu tập, ý chí, nghị lực và thành công của một hành giả. Nếu hành giả thật sự có chánh kiến thì giác ngộ giải thoát chắc chắn sẽ không còn xa nữa: “Đối với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của kiến, này các Tỷ-kheo. Ví như, này các Tỷ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngọt, thích ý, tánh ngon ngọt của nó. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của hột giống. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh hiền thiện của kiến, này các Tỷ-kheo.”[22]
Như vậy, vì yếu tố tinh yếu của chánh kiến nên khi tu tập đòi hỏi chúng ta phải cố gắng làm sao để trước hết phải có chánh kiến. Khi đã thật sự có chánh kiến rồi thì mới có thể ung dung tự tại tu tập thế nào cũng được, nhưng biết chắc là chúng ta sẽ không bao giờ đi sai chánh đạo, nhất là trong thời đại hiện nay, đa phần là tượng pháp.
Chánh kiến thuộc về tuệ cho nên cái duyên đầu tiên để có chánh kiến đó là văn, tức là phải nghe pháp, đọc sách. Cùng với nghe pháp đó là phải thực hành “như lý tác ý”, có nghĩa là phải tác ý đúng pháp như tác ý về vô thường, khổ, vô ngã... Sau khi học hỏi và tác ý đúng pháp một thời gian thì chánh kiến sẽ sanh khởi, như trong Đại kinh phương quảng, ngài Sariputta trả lời câu hỏi của ngài Kotthita:“Này Hin giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?
Này Hin giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng nói của người khác và như lý tác ý. Này Hin giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.”[23]
Sau khi chánh kiến thực thụ đã sanh khởi rồi, hành giả phải tiếp tục tu tập để chánh kiến đi đến viên mãn, lậu hoặc được đoạn tận, thành tựu được tri kiến giải thoát. Trong quá trình tu tập này, có năm yếu tố phải được hành trì để bổ trợ cho chánh kiến gồm giữ giới thanh tịnh, thường xuyên nghe pháp, thảo luận phật pháp, thực hành thiền chỉ và quán: “Do nhiếp thọ năm chi phần, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được thành thục với tâm giải thoát quả và với các lợi ích của tâm giải thoát quả và với các lợi ích của tâm giải thoát quả với tuệ giải thoát quả và với các lợi ích của tuệ giải thoát quả.
Với năm pháp gì? Ở đây, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được giới pháp nhiếp thọ, được văn nhiếp thọ, được luận nghị nhiếp thọ, được chỉ nhiếp thọ, được quán nhiếp thọ. Do được năm chi phần này nhiếp thọ, này các Tỷ-kheo, chánh tri kiến được thành tựu với tâm giải thoát quả và các lợi ích của tâm giải thoát quả, với tâm giải thoát quả, với tuệ giải thoát quả và các lợi ích của tuệ giải thoát quả.”[24]      
Trong Bát thánh đạo, Chánh kiến và chánh tư duy thuộc về tuệ, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng thuộc về giới, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định thuộc định. Mặc dù tám chi phần của Bát thánh đạo được phân chia và sắp xếp theo một trình tự nhất định, chúng luôn phụ thuộc lẫn nhau để cùng phát triển, với hành giả có chánh kiến thì giới (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng) mới được kiên cố, giới phải được giữ nghiêm mật thì định (chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định) mới được phát triển và tuệ mới được thành tựu. Trong đoạn kinh trên đã chứng minh sự hỗ trợ của giới và định cho tuệ, đồng thời cũng có những đoạn kinh nói đến sự hỗ trợ của tuệ và giới đối với định: “Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào về bảy pháp Định tư lương (Sa-màdhi-parikkhàrà) để tu hành chánh định, để kiện toàn thiền định, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác chứng ngộ? Thế nào là bảy? Như chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Chư Thiện hữu, nhứt cảnh tánh của tâm do bảy chi này sửa soạn, được gọi là thánh chánh định cùng với các y chỉ và dùng với các tư lương. Chư Thiện hữu, chánh tư duy vừa đủ để chánh tri kiến sanh khởi, chánh ngữ vừa đủ để chánh tư duy sanh khởi, chánh nghiệp vừa đủ để chánh ngữ sanh khởi, chánh mạng vừa đủ để nghiệp sanh khơi, chánh tinh tấn sanh khởi, chánh định vừa đủ để chánh niệm sanh khởi, chánh trí vừa đủ để chánh định sanh khởi, chánh giải thoát vừa đủ để chánh trí sanh khởi”[25].
Như vậy khi một hành giả tu tập Bát thánh đạo phải thực hành cả tám chi phần, tuy nhiên khi mới thực hành chưa có chánh kiến thật thụ hành giả phải đặt chánh kiến lên hàng đầu và tìm mọi cách để làm cho sanh khởi chánh kiến. Vì rằng, chánh kiến do văn và như lý tác ý làm cho sanh khởi, nên ở giai đoạn đầu hành giả nên giành (dành) nhiều thời gian để nghe pháp và đọc sách, suy ngẫm những lời Phật dạy. Đồng thời, phải luôn thực hành “như lý tác ý”, đó là tác ý về vô thường, khổ, vô ngã... Tác ý đúng pháp là phần rất quan trọng để hành hướng hành giả đi đến trí tuệ của chánh kiến: “Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh đi đến tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng”[26].
IV. KẾT LUẬN
Đến đây, chúng ta một phần nào đã hiểu rõ khái niệm về Bát thánh và giá trị của nó. Tuy nhiên, ở phần kết chúng tôi cũng nhấn mạnh một vài yếu tố để hành giả có một hướng đi rõ ràng hơn. Mục đích tu tập của chúng ta là để làm cho hết sạch tham, sân, và si, vào bất tử giới và Thánh đạo tám ngành này là con đường đưa chúng ta đến điều đó: Ðoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này Tỷ-kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến bất tử, tức là chánh tri kiến... chánh định.”[27]
Tu tập theo đạo Phật được gọi là thực hành phạm hạnh, và cũng chính là đi theo Bát thánh đạo: Này Hiền giả, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, ai đầy đủ Thánh đạo Tám ngành này, người ấy được gọi là người hành Phạm hạnh. Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.”[28]
Trong kinh Tương ưng bộ V, chương Tương ưng đạo và ở những kinh khác nói rất nhiều về tầm quan trọng của bát thánh đạo, ở đây chỉ trích một vài đoạn để hành giả có niềm tin rồi từ đó tự mình đọc thêm trong bản kinh Nikaya. Vì rằng Bát thánh đạo là con đường duy nhất đưa đến chấm dứt khổ đau, đó là con đường của bậc thánh mà ba đời chư Phật đều mở ra và chỉ xuất hiện khi nào có Phật xuất thế: “Có tám pháp này được tu tập, được làm cho viên mãn, chưa được sanh khởi, có thể sanh khởi, nhưng chỉ khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện.
Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến... chánh định. Tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho viên mãn, chưa được sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện.”[29]
Vậy, tất cả chúng ta tu tập dù bất cứ pháp môn nào cũng phải căn cứ trên bát thánh đạo, nếu đi ngoài Bát thánh đạo thì rơi vào tà đạo. Mong rằng những đóng góp nhỏ nhặt trong bài viết này sẽ giúp những hành giả hữu duyên tìm thấy con đường của Chánh đạo.
---------0-----oOo------0---------
PHẦN PHỤ LỤC
NGŨ UẨN
I. GIỚI THIỆU
Trong thế giới mà chúng ta đang sống, tất cả vạn vật được tạo nên do sự vận động và biến đổi của vật chất và tâm thức hay còn gọi là danh và sắc, cho nên thế giới này còn được gọi là thế giới hữu vi[30], các hành, hay thế giới của năm uẩn. Tất cả khổ đau đều bắt nguồn từ năm uẩn này và để giải thoát khổ đau cũng có nghĩa là phải thoát khỏi năm uẩn này. Vì vậy, vấn đề hiểu rõ năm uẩn là hết sức cần thiết đối với một người muốn giải thoát khổ đau. Đối với người xuất gia đệ tử Phật, nếu không thông hiểu năm uẩn thì không xứng đáng là người xuất gia, hành Sa môn hạnh, không thể đạt đến giác ngộ: “Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy không thể ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.”[31]
Trong kinh điển Nguyên Thủy, giáo lý Năm uẩn có một vị trí quan trọng không kém với giáo lý Duyên khởi, được trình bày rất nhiều lần trong các bộ kinh Nikaya, đặc biệt được tập hợp thành ba chương trong Kinh Tương ưng bộ III, do đó chúng ta thấy đây là một giáo lý cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Phật giáo. Trong kinh điển hệ Phát triển, giáo lý năm uẩn cũng rất được coi trọng, được tập thành một bộ kinh đồ sộ, “Kinh Đại Bát Nhã”. Trong bài Bát nhã tâm kinh, chủ yếu nói về trí tuệ hiểu rõ Năm uẩn, một bài kinh thường được tụng đọc ở trong hệ phái Phật giáo phát triển, thậm chí còn được khắc bản để thờ ở các chùa, đã xác định được giá trị của vấn đề thông hiểu năm uẩn qua việc chỉ ra rằng: “ba đời chư Phật đều nương vào trí tuệ hiểu rõ năm uẩn mà thành Phật” (Tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề).
Trải qua thời gian, người thực hành và chứng đắc càng lúc càng hiếm nên những giáo lý cốt lõi như vậy cũng không khỏi bị bỏ quên. Vẫn biết rằng tất cả các pháp hữu vi có sanh đều phải hủy diệt, tuy nhiên những giáo lý căn bản như NgũUẩn nếu duy trì được thêm ngày nào thì lợi lạc cho trời người ngày đó, nên chúng tôi cố gắng tập hợp lại nơi đây để những ai hữu duyên có thể thấy pháp, hiểu pháp, và chứng ngộ giải thoát.
II. NỘI DUNG
Ngũ uẩn có nghĩa là năm nhóm, tổ hợp, tạo nên thế giới này. Bao gồm nhóm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và nhóm thức uẩn. Sắc uẩn thuộc về vật chất, bốn uẩn còn lại thuộc về tinh thần. Vì vậy, tất cả những cảm xúc vui buồn, sướng khổ, hơn thua... đều bắt nguồn từ nơi năm uẩn này. Do đó, để vượt thoát ra khỏi khổ đau, thành tựu Niết bàn hành giả phải thông hiểu Năm uẩn này.
1. Sắc Uẩn
Sắc uẩn là nhóm vật chất bao gồm đất (chất rắn), nước (chất lỏng), gió (chất khí), và lửa (hơi ấm). Sắc uẩn có nội sắc và ngoại sắc. Nội sắc là vật chất tạo nên thân thể chúng ta và ngoại sắc là môi trường vật chất bên ngoài: “Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
Chư Hiền, thế nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới…
Chư Hiền, thế nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới…
Chư Hiền, thế nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới….
Chư Hiền, thế nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới…
Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.”[32]
Tất cả sự vật hiện tượng thuộc vật chất trong thế giới này đều được hình thành từ bốn yếu tố này, gọi là bốn đại, chúng nương tựa vào nhau mà tồn tại, được nuôi dưỡng và duy trì bởi thức ăn từ ngoại sắc. Như cơ thể con người, bao gồm chất rắn (xương, thịt, tóc, móng…), chất lỏng (máu, dịch…), chất khí (hơi thở), và hơi ấm, được nuôi dưỡng và duy trì nhờ cơm cháo thuốc men, oxi, và nhiệt độ. Nếu thiếu một trong bốn chất này tức là thiếu thức ăn, nước, oxi, hoặc không đủ ấm thì cơ thể chúng ta sẽ tan rã: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.”[33]
Như vậy, cơ thể chúng ta hay bất cứ một vật gì được tạo bởi những yếu tố không phải là chính nó đều không thể tồn tại lâu dài. Vì sao? Một cái gì mà chúng ta vây mượn thì một ngày nào đó phải trả nó về lại cho chủ của nó, hơn nữa trong cơ thể này lại vây mượn tới bốn yếu tố, buộc chúng phải đoàn kết với máu là điều vô cùng khó, khi một yếu tố nào yếu thế rút lui hay bực tức tăng lên, coi như cơ thể này xong. Cho nên trong kinh đức Phật thườn xuyên dạy: “Này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú. Nếu một sắc nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú, do vậy, đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày.”[34]
Khi thấy rõ điều này rồi, ai còn có thể xem nó là mình, là của mình nữa không? Vì bất cứ cái gì được xem là mình, là của mình, khi cái ấy bị hư hoại hay mất đi, chúng ta sẽ đau khổ vô cùng, như một chiếc xe Honda ở trong Salon chưa được mua về thì nó có hư hỏng hay mất đi chúng ta cũng chẳng bận tâm, nhưng khi đã mua về rồi và được xem là của ta rồi, nếu nó có bề gì thì chúng ta sẽ bị sầu não. Như vậy những đau khổ này do đâu mà có, có phải vì ý nghĩ “nó là của mình” không? Có thể, bất cứ ai khi nghe nói điều này điều cảm thấy khó hiểu, và chính bản thân người viết cũng đã từng như vậy, nhưng khi đọc đoạn kinh sau rồi thì thấy nó rất thật:
“Này Aggivessana, Ta sẽ hỏi Ông trở lại về vấn đề này. Ông có thể trả lời nếu Ông muốn. Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Một vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu con bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất không?
Tôn giả Gotama, một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha, vua này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất. Này Tôn giả Gotama, cho đến các giáo đoàn, các đoàn thể, như các Vajji, các Malla, vẫn có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất, còn nói gì một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, nhưvua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu con bà Vedehi nước Magadha. Này Tôn giả Gotama, vị ấy có quyền hành ấy và xứng đáng có quyền hành ấy.
Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngã của ta", Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi như thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không?”[35]
Có lẽ, chúng ta rơi nước mắt nhiều trong cuộc sống này là vì ý nghĩ “con tôi, vợ tôi, chồng tôi, nhà tôi, xe tôi…”
Tất cả các pháp hữu vi luôn sanh diệt biến chuyển theo một dòng chảy tự nhiên, cho nên chúng ta không thể nắm giữ chúng, hay bắt buộc chúng phải tuân theo ý mình. Tại sao vậy? Vì nó là đất, là nước, không khí, hay hơi ấm, vốn có trong tự nhiên, nó thật sự là không phải ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta. Tuy vậy, nếu chúng ta tham đắm chúng, muốn nó thuộc của mình, thì chúng ta sẽ khổ đau: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi". Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác. Vị này khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.”[36]
Là chúng sanh trong cõi dục, bị năm uẩn trói buộc, nhưng nếu là bậc Vô lậu thì khổ đau vẫn còn do phải mang cái thân này. Như đức Phật và các vị đại đệ tử của ngài, du đã giải thoát nhưng vì còn mang cái sắc thân này nên nhiều lúc cũng bệnh hoạn, ốm đau, tuy nhiên khi thân bị đau tâm của các ngài không dao động như những người phàm phu. Và ngài cũng thường dạy các đệ tử như vậy: “Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: "Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh". Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.”[37]
Ngày nay, có nhiều người đến với đạo Phật để học thiền nhằm để trị thân bệnh, tuy có một số lợi ích, nhưng điều này lại đi ngược lại với những gì Phật dạy rằng “thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã.”[38]
Khi đã thấy được rằng phải mang sắc thân này là khổ đau, không thể nào khác được, chúng ta sẽ cảm nhận được sự an lạc của một cảnh giới không phải bị trói buộc bởi sắc: “Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi sắc.”[39]
2. Thọ Uẩn
Thọ uẩn là nhóm bao gồm các cảm xúc vui buồn, dễ chịu khó chịu, thích thú không thích thú, sướng khổ... Tất cả những cảm thọ này tuy rất đa dạng nhưng dựa trên tính chất của nó thì có thể chia thành ba loại bao gồm cảm thọ khó chịu, cảm thọ dễ chịu, và cảm thọ trung tính, hay cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, và cảm thọ không khổ không lạc: “Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.”[40]
Tất cả những cảm thọ đến từ sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và các đối tượng của chúng như mắt và các hình ảnh, tai và các tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Khi sự tiếp xúc xảy ra thì cảm thọ hiện hữu, khi sự tiếp xúc chấm dứt thì cảm thọ không còn nữa. Và vì có sáu điểm phát sinh xúc nên cảm thọ được chia làm sáu loại: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt.”[41]
Tất cả vui buồn của cuộc sống đều phát sanh từ sáu giác quan khi tiếp xúc với đối tượng ưng ý hay không ưng ý. Vì những cảm xúc này do duyên nơi đối tượng phát sanh nên rõ ràng chúng không có tự ngã, không thể tự duy trì và tồn tại. Đồng thời, khi các đối tượng được cảm nhận biến đổi thì cảm thọ cũng biến đổi theo, cho nên tất cả cảm thọ rất mong manh, và ngắn ngủi, không có tự thể, và chúng ta không thể làm chủ được cảm thọ của mình: “Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!" Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"[42]
Trong thế giới này, hết thảy chúng sanh sống theo bản năng và bị thôi thúc bởi tham dục, luôn luôn đi tìm cầu những vị ngọt của cảm thọ. Nắm được bản chất ham muốn của con người, các nhà sản xuất luôn luôn cố gắng tạo ra những món hàng hấp dẫn khách mua ở nơi mắt, tai, mũi, miệng, thân, và thậm chí cả ý. Và vì tất cả cảm thọ đều vô thường, mới đầu thì thấy hấp dẫn nhưng lâu rồi cũng chán, như khi nghe một bài hát hay ai cũng muốn nghe lâu hơn, nhưng khi nghe nhiều lần rồi cũng chán. Cho nên dù bao nhiêu sản phẩm, thú vui… được tạo ra nhưng con người chưa bao giờ biết thỏa mãn, cho nên chúng ta thấy thọ là không thường hằng, ngược lại chúng rất ngắn ngủi, vì khi có xúc thì thọ hiện hữu, hết xúc thì chúng cũng mất, và xúc cũng là sự kết hợp của các giác quan, đối tượng, và nhận thức nên không tồn tại lâu dài. Như vậy thọ luôn luôn bị biến diệt: “Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.”[43]
Là một chúng sanh, tâm luôn bị chi phối bởi ba cảm thọ này, cảm thọ lạc thì khởi tâm tham, cảm thọ khổ thì khởi tâm sân, cảm thọ không khổ không lạc thì khởi tâm si. Và bất cứ ai khi tâm bị chi phối bởi tham, sân, và si thì không tránh khỏi khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não: ““Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước. Tham tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy, vô minh tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng.
Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tuỳ miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tuỳ miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tuỳ miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho mình khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
Này các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và do duyên các xúc khởi lên thân thức.
Này các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước, tham tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng.
Này các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tuỳ miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tuỳ miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tuỳ miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.”[44]     
Khi cảm thọ một cảm thọ lạc, ai cũng muốn kéo dài cảm thọ đó nhưng điều kiện không chó phép, như khi ăn một món ngon ai cũng muốn ăn thêm nhưng cái bụng không cho phép. Khi phải cảm thọ một cảm thọ khổ, ai cũng muốn nó chấm dứt ngay điều đó thật khó, như khi bị bệnh ung thư, thân thể đau nhức, mọi người đều muốn nó hết chấm dứt ngay, nhưng nó là chuyện của thân này, không phải của ta, nên thật là khó làm theo ý muốn của mình. Tuy nhiên, ít ai thấy rõ điều đó, nên họ thường tham đắm những cảm thọ lạc và chống đối với cảm thọ khổ, cho nên khổ càng tăng trưởng thêm. Ngược lại, nếu người nào thấy được bản chất của sự vật là như vậy, và giữ tâm thư thản thì khổ sẽ giảm bớt: “Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: "Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc". Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.
Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: "Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm.”[45]
Như vậy, khi còn bị trói buộc bởi thân tứ đại này thì việc tìm cầu cảm thọ lạc, né tránh cảm thọ khổ là những điều không phải dễ. Hơn nữa, chính cảm thọ lạc cũng luôn đi kèm theo với khổ, vì bản thân thọ chỉ là những biểu hiện của cảm xúc, phụ thuộc vào tần số rung động của thức (thói quen cảm nhận). Ví dụ, khi ta vừa ăn chè, sau đó liền ăn xoài thì sẽ cảm thấy xoài chua, nhưng nếu ăn xoài trước thì thấy xoài ngọt. Như vậy, cảm giác ngọt hay chua ở đây chi là ảo giác nên nó không thật. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta chạy theo những ảo giác này như uống rượu, ăn ớt, xứt dầu nóng khi bị ngứa... Tóm lại, cảm thọ luôn ẩn chứa khổ đau: “Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ".”[46]
Sống trên cuộc đời này chủ yếu là cảm thọ, nhưng đức Phật dạy tất cả cảm thọ đều khổ cả, vậy cái gì là không khổ? Câu trả lời rõ ràng là không cảm thọ thì không khổ. Nếu ai còn nặng về tham ái, hay chưa thật sự thấy thọ là khổ, chưa thấy khổ đau phải ngồi hàng giờ để câu một con cá như con ngựa trời đậu nơi cành hòa ngày này qua ngày khác du trời mưa gió để chờ bắt con ong, thì không thể thấy sự an lạc của không thọ, diệt tận Niết bàn: “Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân". Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng". Vị ấy biết rõ rằng: "Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!"
Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của (ngọn đèn) ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về thân". Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng". Sau khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!”[47]
3. Tưởng uẩn
Có những lúc ngồi một mình với bụng đói nhừ, hình ảnh những món ăn như Phở, bún, cơm, cháo... bắt đầu xuất hiện trong đầu chúng ta từ vẽ bên ngoài cho đến mùi vị. Đó là chúng ta đang tưởng về những điều đáng mong muốn, đôi lúc có những điều không đáng mong muốn nhưng chúng vẫn cứ lảng vảng trong óc chúng ta như chuyện bị xấu hổ trước đám đông, bị làm nhục, bị hành hung... Như vậy, tưởng là hoạt động của ý, có chức năng tái hiện lại những hình bóng của sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, hay pháp, là nhớ tưởng, tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng, … “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng.”[48]
Vậy, tưởng là một trạng thái tâm lý sanh ra do ý tiếp xúc với hình bóng cũ được thu vào từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hay ý. Khi sự tiếp xúc này xảy ra thì tưởng có mặt và khi sự tiếp xúc này chấm dứt thì tưởng cũng không còn nữa. Như vậy tưởng cũng hết sức mỏng manh, không có tự ngã, bị lệ thuộc, không thể thường còn, thường hằng bất biến: có khi chúng ta không muốn nhớ lại những quá khứ tội lỗi của mình nhưng nó vẫn hiện ra, có những chuyện chúng ta muốn nhớ lại nhưng không tài nào nhớ nỗi. Cho nên tưởng thường không hoạt động như ý của chúng ta:“Các tưởng là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các tưởng là ngã, thời các tưởng không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các tưởng như sau: "Mong rằng các tưởng của tôi như thế này! Mong rằng các tưởng của tôi chẳng phải như thế này!"[49]
Là con người bình thường, luôn luôn sống trong tưởng, ham thích trong tưởng, bị tưởng chi phối, không thoát ra khỏi tưởng. Đối với những người như vậy, tưởng là lẽ sống của họ, là niềm vui, là chất liệu để họ tồn tại, và không ai biết rằng tưởng là khổ đau, thậm chí họ cũng không biết tưởng là gì cả, vì họ đã đồng nhất tưởng với chính họ, là một yếu tố không thể tách rời đối với cuộc sống của họ, do đó nó thật sự là không cần thiết để họ biết đến tưởng. Nhưng đối với một người hành thiền, muốn tìm cầu giải thoát khổ đau thì tưởng lại thật sự là bệnh hoạn, cục bứu, mụn nhọt, vì khi hành thiền họ muốn nhất tâm thì tưởng lại xuất hiện với những hình bóng của sắc, thanh, hương, vị, và xúc thì vô cùng khổ đau. Trong trường hợp như vậy, hành giả quán sát tưởng để thấy đâu là khổ đau, như những gì đã được đức Phật phân tích cặn kẽ trong kinh để cho những người nào muốn thoát khỏi khổ đau thấy rõ, để rồi biết cách tu tập giải thoát. Thật vậy, nếu tu tập mong cầu giải thoát mà không biết rõ tưởng hay năm uẩn thì thật sự khó có thể thấy được đạo giải thoát: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định.
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.”[50]
4. Hành Uẩn
Là nhóm của những hành động nơi thân, miệng, và ý. Tuy nhiên, ý hành vẫn được xem là chủ chốt vì tất cả hành động nơi thân và miệng đều do ý làm chủ. Trước khi làm một việc hay nói một lời, ý thường suy nghĩ, tư duy, sắp đặt kế hoạch cho việc đó rồi mới ra lệch cho hai bộ phận kia thực hiện. Do vậy, nhiều khi nói đến hành đức Phật chỉ đơn giản nói đến ý hành mà không đề cập đến hai hành động kia, và kết hợp với đối tượng được ý suy tư hành được chia làm sáu loại: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân hành này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt.”[51]
Theo duy vật biện chứng thì các sự vật hiện tượng trong vũ trụ luôn vận động và biến đổi, và chính nhờ sự vận động này mà nó được tồn tại. Trong đạo Phật, thế giới của chúng ta đang sống được gọi là thế giới hữu vi, có nghĩa là do hành động tạo ra, và tất cả các sự vật hiện tượng thường được gọi là các hành, vì nhờ hành mà chúng được có mặt và duy trì: “Tất cả loài hữu tình do các món ăn (àhàra) mà an trú, tất cả loài hữu tình do các hành (samkhàrà) mà an trú. Này các Hiền giả, đó là một pháp được Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thuyết giảng một cách chơn chánh.”[52]Do đó, mặc dù gọi thế giới này là thế giới của năm uẩn, nhưng tất cả các uẩn khác đều do hành uẩn tạo ra: “Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành”.[53]
Hơn nữa, hành cũng do xúc mà có và khi xúc diệt thì hành cũng diệt, cho nên hành cũng vô ngã, vô thường biến hoại. Và như vậy, thật sự là khó để chúng ta có được các hành lúc nào cũng như ý mình, một người đầu bếp giỏi không thể nấu được những món ăn ngon nếu không đủ nguyên liệu, một cầu thủ bóng đá không phải bao giờ cũng chơi hay... “Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này.”[54] Cho nên, nếu chúng ta chấp thủ vào hành và cho nó là mình là của mình hay tự ngã của mình thì khi hành không còn theo ý mình nữa, bị thay đổi biến hoại, chắc chắn chúng ta sẽ bị thất vọng và đau khổ: “Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!”[55]
5. Thức Uẩn
Đối với một em bé hai tuổi, nếu ai cho một túi tiền một tỷ Mỹ kim, chắc chắn em sẽ không vui lắm (thọ), nhưng nếu chúng ta cho em một cái bánh hay một con búp bê thì em sẽ rất vui. Một túi tiền đối với em bé có thể chỉ là một món đồ chời, em có thể tháo tung nó ra rồi quăng lên khắp nhà ngoài ra nó chẳng có giá trị gì cả. Tại sao vậy? Vì trong nhận thức của một em bé hai tuổi chưa có khái niệm về tiền và những giá trị của nó. Một ví dụ khác về thức đó là giá trị của cổ vật như một cái bát sứ năm trăm tuổi, đồi với một người rành đồ cổ hay thích chơi đồ cổ thì rất quý cái bát và đối với những người đó nó có giá đến vài chục triệu đồng, nhưng với một người không biết gì về đồ cổ thì cái bát đó cũng như những cái bát khác thậm chí là không có giá trị gì cả. Như vậy, thức là sự nhận biết, phân biệt:“Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức”.[56]
Đối với em bé hai tuổi, chưa có nhận thức đầy đủ về tiền, khi được cho một tỷ Mỹ kim em chỉ vui mừng (thọ) như cho một món đồ chơi xấu xí nào đó, nhưng nếu đem cho chúng ta số tiền đó thì chắc chắn niềm vui (thọ) sẽ rất lớn. Một trường hợp khác là khi ta thấy một sợi dây mà nghĩ (thức) là con rắn liền cảm thấy sợ hãi (thọ) Như vậy thức có vai trò chính quyết định tính chất của thọ, về mặt tương đối nếu nhận thức đúng thì cho ra thọ đụng, nếu nhận thức sai thì thọ sai. Như vậy thức là một trong ba yếu tố tạo nên thọ: “Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ…”.[57]
Trong trường hợp ngược lại, chính thọ cũng góp phần tạo nên thức trong chuỗi vận hành của danh (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư). Trong tiến trình này, thức được hình thành sau sự tiếp xúc có tác ý của căn trần đưa đến cảm nhận, rồi hồi tưởng và tư duy. Nhận thức càng nhạy bén khi được tiếp xúc, tác ý, hồi tưởng, và suy tư nhiều lần: như một món ăn, nếu ta ăn nhiều lần rồi thì khi ngửi mùi là biết (thức) ngay đó là món gì và sự thèm khát (thọ) khởi lên ngay, hay một người thân khi nghe giọng nói qua điện thoại là ta nhận ra ngay là ai và cảm thọ vui hay giận sẽ đến. Nhưng nếu là món ăn mà chúng ta chưa bao giờ được nếm nếu chỉ ngửi mùi thôi thì không biết (nhận thức về món ăn đó chưa có) được là món gì, hay một người mà chưa bao giờ gặp thì khi nghe tiếng qua điện thoại chúng ta không thể nhận biết (thức) được hình dạng của người đó cho nên thọ chưa khởi lên. Như vậy thức ở đây được hình thành khi căn và trần gặp nhau (sắc) cùng với sự tham gia của danh: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này, này các Tỷ -kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt.”[58]
Như vậy, thức do danh sắc hình thành và khi danh sắc diệt thì thức diệt, cho nên thức cũng vô ngã, không thể thường thằng, thường trú. Ngược lại thức luôn biến đổi theo sự biến đổi của danh sắc: “Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được?”[59]
Đối với tất cả sự kiện trong cuộc sống, nếu chúng ta chịu khó tư duy, nhìn nhận một chút thì sẽ thấy được nhiều điều rất thú vị và vô cùng giá trị đối với bản thân và thế giới xung quanh, đặc biệt đối với nhận thức con người nếu để tâm quan sát một chút thì sẽ thấy nó thây đổi rất nhiều từ niềm tin cho đến quan điểm: trước đây chúng ta không tin đạo Phật nhưng giờ lại tin, trước đây sống ích kỷ nhưng giờ vị tha hơn, và ngược lại… Vì vậy, đối với nhận thức, chúng ta luôn tìm cách mở rộng kiến thức để có nhận thức phù hợp, càng lúc cáng có tính chính xác cao, không bị trói buộc vào bất cứ một chủ nghĩa hay định kiến nào. Tất cả những phân biệt chủng tộc, giáo phái, tôn giáo, chủ nghĩa... đều đưa nhân loại đến đấu tranh và hoại diệt. Phân biệt đối xử là một trong những hoạt động phát sanh từ nhận thức, điều này dẫn đến đau khổ cho cả người phân biệt đối xử và cả người bị phân biệt đối xử. Vì rằng, khi chúng ta phân biệt đối xử một người nào đó, tất nhiên những tâm tiêu cực sẽ khởi lên quấy rối chúng ta như ganh ghét, khó chịu, bực bội... còn người bị phân biệt với tâm chưa giải thoát sẽ cảm thấy bị khinh bỉ, xúc phạm, làm nhục… Như vậy, bị chấp thủ trói buộc bởi thức là khổ đau, thoát khỏi thức là hết khổ đau: “Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.”[60]
III. QUÁN CHIẾU NGŨ UẨN
Trong tâm lý học lâm sàng, phương pháp trị liệu một bệnh nhân có chứng sợ bóng đêm hay sợ đám đông… thường được thực hiện theo ba bước: thứ nhất là thư giãn bằng cách buông thư hoặc thiền chánh niệm, thứ hai là niệm thầm một câu như “không có gì sợ cả” hay “ở đây không nguy hiểm”, bước kế tiếp là cho bệnh nhân tiếp cận dần với tình huống. Trong Phật giáo, tất cả những phàm phu đều có vấn đề về tâm thần vì đối với cái vô thường lại cho là thường hằng, đối với cái khổ lại cho là lạc, đối với cái vô ngã lại cho là ngã... cho nên phương pháp trị liệu cũng có những bước như Tâm lý học hiện đại, tức là trước hết hành giả dùng thiền chỉ để giữ tâm yên bình, sau đó dùng thiền quán bằng cách tác ý về vô thường, khổ, vô ngã… để thay đổi nhận thức. Đôi lúc cũng dùng phương pháp tiếp cận như quán tử thi, quán bất tịnh, v..v..
Như vậy, phương pháp thiền định trong Phật giáo hết sức khoa học, rõ ràng và thực tế, và được đức Phật chỉ dạy rất chi tiết trong toàn bộ kinh Nikaya hay A hàm. Tuy nhiên, do không chịu học hỏi và thực hành nên đã bỏ qua những lời dạy thâm thúy của Phật rồi tự mình đưa ra nhiều phương pháp sai lạc. Ngày nay, chúng ta may mắn được tiếp cận với khoa học hiện đại, có nhiều cơ hội để đối chiếu giữa những lời dạy của Phật và các khoa học khác, từ đó rút ra những gì là sai lầm do các vị đi trước đưa vào sau khi PHật nhập diệt, và những gì là chính ngôn do đức Phật giản dạy. Nhờ đó chúng ta mới có được nhiều lợi ích từ những lời dạy của PHật.
Trong thiền định Phật giáo, thiền quán được sử dụng để đoạn nghiệp thức vốn được hình thành do thói quen nhìn nhận sự vật với ngã tướng. Nếu như thông thường nghiệp thức được hình thành do sự gặp nhau giữa các giác quan và đối tượng cùng với tác ý có ngã tướng (vuông, tròn, cao, thấp...), lạc tướng, thường hằng tướng... khiến cho tham dục, sân hận và si ám ngày càng tăng trưởng, để tiêu diệt nghiệp thức chúng ta chỉ cần tác ý ngược lại (tác ý vô thường, khổ, vô ngã…) là xong. Điều này hết sức logic, không có gì phải băn khoăn cả, và cũng không có lý luận nào phản bác được, và chính đức Phật Vipassi cũng đã tu tập như vậy mà đoạn tận lậu hoặc: “Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.
Và đối với Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.”[61]
Trong trường hợp của đức Phật Vipassi, lúc đầu ngài quán sanh diệt của mười hai nhân duyên để phát sanh minh kiến, sau đó ngài mới quán chiếu năm uẩn để đoạn tận lậu hoặc. Tuy nhiên, năm thủ uẩn cũng là một Phần của Mười hai nhân duyên, nên nếu không biết về Mười hai nhân duyên, chúng ta chỉ cần quán chiếu năm uẩn là đủ sau khi đã giữ giới thanh tịnh: “Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
Này Hiền giả Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý? Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
Nhưng Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
Nhưng Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.”[62]
Ở phần trên chúng ta đã tìm hiểu kỹ về năm uẩn và thấy rõ rằng chúng là vô thường, khổ, không đáng được xem là ta, của ta, hay tự ngã của ta. Vào thời đức Phật còn tại thế, có những vị Tỷ kheo với trí tuệ sắc bén khi được nghe giảng về năm uẩn như vậy thôi đã có thể vào Dòng thánh thậm chí có những vị đoạn tận lậu hoặc ngay lập tức. Đối với chúng ta, khi hiểu rõ về năm uẩn như vậy là đã có một tiến bộ lớn, tuy nhiên sự thấy biết đó chưa thật sâu sắc hoặc chưa tận cùng và chưa liên tục do thói quen nhận thức có ngã tướng, thường hằng tướng… được hình thành từ vô lượng kiếp vẫn còn tiềm ân ở đó. Có nhiều người nghĩ rằng: Tôi thấy năm uẩn vô thường, khổ, vô ngã rõ ràng rồi sao tôi chưa đoạn tận lâu hoặc? Để kiểm tra cái thấy của mình có tận cùng và liên tục chưa, mỗi lúc gặp những cảnh bắt mắt hay điều trái ý, chúng ta hãy nhìn xem tâm mình có khởi lên tham đắm hay sân hận không? Nếu có, thì rõ ràng khi đó ta vẫn đang nhìn sự vật với ngã tướng, những ý niệm cảm nhận sự vật theo bản năng vẫn còn xuất hiện thỉnh thoảng trong tâm, điều này khiến cho phiền não sanh khởi, lậu hoặc rỉ chảy. Do đó đòi hỏi hành giả phải tiếp tục quán chiếu năm uẩn liên tục trong một thời gian nữa mới có thể đoạn tận lậu hoặc, như ngài Khemaka giải thích: “Dầu cho đối với vị Thánh đệ tử, này chư Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy còn nghĩ: "Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị". Dư tàn kiêu mạn 'Tôi là", dư tàn dục 'Tôi là’, dư tàn tùy miên 'Tôi là’ chưa được vị ấy đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... Ðây là tưởng... Ðây là các hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt"
Vì rằng vị ấy sống, quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn (?) "Tôi là", các dư tàn ngã dục "Tôi là", các dư tàn ngã tùy miên (?) "Tôi là", mà vị ấy chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận.
Này chư Hiền, ví như một tấm vải nhớp nhúa dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ giặt. Người thợ giặt sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô đã, trong nước phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy nay được sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã, hay mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những người chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy cái dư tàn mùi muối hay mùi tô đã bay mùi phân bò chưa được đoạn tận, nay được đoạn trừ.
Cũng vậy, này chư Hiền, dầu cho vị Thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với vị ấy, cái dư tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn "Tôi là", dư tàn ngã dục "Tôi là", dư tàn ngã tùy miên: "Tôi là" chưa được đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: "Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt". Vì rằng vị ấy sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này nên các dư tàn trong năm thủ uẩn này, ngã mạn "Tôi là", ngã dục "tôi là", ngã tùy miên "Tôi là" chưa được đoạn tận nay đi đến đoạn trừ.”[63]
Như vậy phương pháp thiền quán của Phật dạy rất đơn giản và ai cũng có thể thực hành để thành tựu thánh quả ngay trong hiện tại. Căn cứ vào nhưng lời dạy trên chúng ta có thể chia phương pháp quán chiếu Năm uẩn thành hai cách: quán chiếu sâu về năm uẩn, sự tập khởi, sự đoạn diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt năm uẩn, cách thứ hai là dựa vào sự hiểu biết sâu sắc về năm uẩn chúng ta chỉ cần tác ý năm uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, ốm đau...., như được tả ở đoạn trích.
Theo cách quán thứ nhất, quán chiếu cả năm uẩn cùng với sự tập khởi, sự diệt mất của nó, và con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến đoạn diệt năm Uẩn để thấy được thật tánh vô ngã của Năm Uẩn như đức Phật từng dạy. Hành giả phải nhớ lại nội dung của Năm uẩn đã được giới thiệu ở phần trên và bắt đầu tư duy từng phần một như sau: Đây là sắc, do sự tập khởi của món ăn nên có sự tập khởi của sắc, và do sự đoạn diệt của thức ăn đưa đến sự đoạn diệt của sắc và con đường Thánh đạo tám ngành này là con đường duy nhất đưa đến đoạn diệt sắc. Đây là thọ, tưởng, và hành, do sự tập khởi của xúc nên có thọ, tưởng, hành, do xúc đoạn diệt nên thọ, tưởng, hành đoạn diệt và con đường đoạn diệt thọ, tưởng, và hành là con đường bát Thánh đạo. Và đây là thức, do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi, do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt, và con đường đưa đến đoạn diệt thức cũng là Bát thánh đạo. Khi tư duy quán sát như vậy hành giả nên liên hệ với nội dung đã được giải thích ở phần trên cũng như những kinh nghiệm bản thân để cho sự quán chiều của mình thêm phong phú và sâu sắc kết hợp với việc tìm cách trả lời câu hỏi sau: Tại sao Bát thánh đạo là con đường duy nhất đưa đến đoạn diệt năm uẩn? Thực tập quán chiếu như vậy giúp hành giả bào mòn dần sự chấp thủ năm uẩn do cái thấy vô ngã càng ngày càng rõ ràng hơn.
Tóm lại, học hỏi và quán chiếu năm uẩn là để chúng ta thấy rõ tính chất sanh diệt của chúng, từ đó đạt được cái thấy vô ngã, không còn bị chúng trói buộc bởi bất cứ vật gì trên đời, dẫn đến sự nhàm chán, ly tham, đoạn tận tất cả pháp hữu vi, và không còn bị lo âu phiền muộn: “Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem cảm thọ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem tưởng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem các hành: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức, được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", và bất cứ kiến xứ nào đều nói rằng: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi", xem như vậy là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật có nên không có lo âu, phiền muộn.”[64]
Quán chiếu hay tác ý về năm uẩn để thấy bản chất thật của chúng là phương pháp thực hành của ba đời chư Phật để chứng đắc cứu cánh Niết bàn, vượt qua sợ hãi, sầu, bi, khổ, ưu, não…, được khắc ghi rất cẩn thận ở các chùa theo truyền thống Bắc tông thành bài Bát Nhã Tâm Kinh, nhằm nhắc nhở cho tất cả chúng ta ngày ngày phải thường xuyên quán chiếu năm uẩn để vượt thoát sanh tử luân hồi: “hành thâm Bát Nhã Ba La mật đa thời chiếu kiến ngủ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”.
IV. KẾT LUẬN
Khi nghiên cứu về đạo Phật, nhiều người thường tìm đến giáo lý Tứ Diệu Đế như là một nền tảng để từ đó họ đi sâu vào đạo Phật. Điều này hết sức dĩ nhiên vì trong kinh Nguyên thủy chính đức Phật thường xuyên nhắc đến giáo lý này và các nhà sư sau này cũng triển khai giáo lý này như là tinh túy của Phật giáo, tuy nhiên ít ai biết rằng muốn hiểu được giáo lý Tứ diệu đế trước hết phải hiểu rõ giáo lý Ngủ uẩn. Trong Tứ diệu đế, Khổ đế chính là Năm thủ uẩn, sự tập khởi của Năm thủ uẩn chính là sự Tập khởi của khổ, và sự đoạn diệt Năm thủ uẩn chính là sự Diệt khổ và con đường đưa đến đoạn diệt Năm thủ uẩn chính là con đường đưa đến diệt khổ. Vì vậy, không chỉ khi thấy được Tứ Diệu Đế mới chứng được quả Dự lưu mà hiểu rõ Ngủ Uẩn hành giả cũng đã vào được dòng Thánh: “Và khi nào vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị Ða văn Thánh đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối thất, đã được quyết định, hướng đến Chánh Ðẳng Giác.”[65]
Vì là giáo lý đưa một kẽ phàm phu bước vào dòng Thánh nên nó không bao giờ là dễ hiểu cả đối với một người tâm đầy tham dục, cho nên có nhiều nhận định cho rằng đạo Phật bi quan yếm thế, tuy nhiên bi quan hay lạc quan đều chỉ là những nhận định dựa trên những quan điểm nhị biên, bị trói buộc bởi tham ái, trong khi đó con đường giải thoát được đức Phật trình bày là phải thoát ra khỏi nhị biên, nhìn thẳng vào sự thật, không có né tránh để khỏi phải sống sợ hãi và lo âu. Tất cả những gì đức Phật nói là sự thật hiển nhiên trong cuộc sống, không phải thuộc thế giới siêu hình, hay những triết lý xa vời. Ngược lại, nó nằm ngay trước mặt, nhưng do vô mình tham ái, nên chúng ta ít để ý, do đó chúng ta không thể thấy được sự thật. Là một người đã thấy được sự thật và vượt ra khỏi khổ đau, đức Phật vì lòng thương tưởng cho đời đã chỉ lại cho chúng ta cái sự thật đó, nhưng nếu chúng ta cũng không thấy nữa thì thật là quá ngu muội: “Ở trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là gì, thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ? Sắc, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức, này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.”[66]
Không chỉ nói lên sự thật, đức Phật luôn luôn khuyên dạy đệ tử phải tư duy để thấy sự thật đó bằng trí tuệ của chính mình, không nên chấp nhận một quan điểm nào đó chỉ nhờ vào đức Tin. Đây chính là tinh thần tự do tư tưởng tuyệt đối, chỉ có trong đạo Phật, một trí tuệ của con người, do con người và vì con người. Khi chỉ dạy về sự chấm dứt tận cùng của khổ đau, vượt ra khỏi sự hiện hữu của Năm uẩn, đức Phật đã giảng giải rất súc tích trên tinh thần đó: “Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi vô sắc". Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp.
Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không thể có sự hữu diệt toàn diện", ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một sự hữu diệt toàn diện", ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: "Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm", thời như vậy không xứng đáng với ta. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không thể có một sự hữu diệt toàn diện", nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh chỗ các chư Thiên vô sắc do tưởng sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một sự hữu diệt toàn diện", nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ nhập Niết-bàn ngay trong hiện tại. Những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không thể có một sự hữu diệt toàn diện", thời quan điểm này của các vị ấy gần với tham ái, gần với kiết sử, gần với ái lạc, gần với chấp trước, gần với chấp thủ. Còn những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có sự hữu diệt toàn diện", thời quan điểm này của những vị ấy là gần với ly tham, gần với không kiết phược, gần với không ái lạc, gần với không chấp trước, gần với không chấp thủ". Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự vô tham, sự diệt tận đối với các hữu.”[67]
Như vậy, sự thật trong cuộc sống mà đức Thế Tôn muốn chỉ cho chúng ta chính là năm uẩn, sự sanh diệt của năm uẩn, và con đường đi đến đoạn diệt năm uẩn. Do không thấy, không hiểu rõ năm uẩn này cho nên chúng ta chấp thủ và bám víu vào chúng, chúng ta không thể thoát khỏi khổ đau, bị trôi lăn trong luôn hồi sanh tử: “Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thừng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng như là tự ngã... quán các hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: "Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau".”[68]
Có thể có những người ham thích triết lý cao siêu, xa rời thựt tế, không liên hệ đến pháp giải thoát, khi nói đến ngủ uẩn liền cho rằng nó không có gì quan trọng cả, nhưng khi được hỏi thì không thể trả lời được một cách đầy đủ. Họ giải thích chánh Pháp một cách sai lạc, đi sâu vào những vấn đề vượt ngoài khả năng suy tưởng của con người như Niết bàn hay cảnh giới của chư Phật, bịa ra những huyền thoại để củng cố quan điểm của mình khiến cho những thế hệ sau càng đi từ sai lầm này đến sai lầm khác: “Này Gia chủ, một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Lại có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên các tà kiến này có mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?
Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?
Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc... quán thọ như là tự ngã... tưởng... các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến có mặt.”[69]
Tóm lại, vì tính chất duyên sanh, hữu vi, vô thường, của thân năm uẩn nên chúng mang lại khổ đau cho bất cứ ai tham đắm và bị trói buộc bởi chúng: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Đây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.”[70]Khi mang thân năm uẩn này thì phải chịu sự tác động của môi trường bên ngoài, bị tác động bởi thời tiết, âm thanh, hình ảnh… cho nên cái khổ là không thể tránh khỏi: “Này Hiền giả, tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc. Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với trượng, xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau cũng não hại. Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ này. Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Không lạnh, không nóng, không đói, không khát, không đại tiện, không tiểu tiện, không có xúc chạm với lửa, không có xúc chạm với trượng, không có xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có não hại.”[71]
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~***~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~



[1] Kinh Trường bộ I, Kinh đại Bát Niết bàn, trang 659
[2] Kinh Tương ưng bộ V, Tương ưng đạo, trang 66
[3] Kinh tương ưng bộ IV, Duyệt hỷ tiêu tận, trang 237
[4]Kinh Trung bộ III, Đại Kinh bốn mươi, trang 237
[5] Kinh Trung bộ III, Đại kinh bốn mươi, trang 237
[6] Kinh trung bộ I, Kinh chánh tri kiến, trang 111
[7] Kinh trung bộ III, Kinh phân biệt sự thât, trang 564
[8] Kinh trung bộ III, Đại kinh bốn mươi, trang 237
[9] Kinh tương ưng bộ II, đại phẩm thứ 7, trang 190
[10] Kinh tương ưng bộ V, tương sự thật, phẩm định, trang 607
[11] Kinh tương ưng bộ V, Tương ưng đạo, trang 9-98
[12] Kinh trung bộ III, Kinh phân biệt sự thật, 564
[13] Kinh Trung bộ III, Đại kinh bốn mươi, trang 237
[14] Kinh tương ưng bộ V, chương Tương ưng đạo
[15] Kinh Tăng chi bộ, chương bốn pháp, biết đủ 27
[16] Kinh Trung bộ III, đại kinh bốn mươi, trang 237
[17] Kinh trung bộ III, đại kinh bốn mươi, trang 237
[18]Kinh trung bộ III, Kinh phân biệt sự thật, trang 564
[19]Kinh tương ưng bộ V, Tương ưng đạo, trang 9
[20]Tương ưng bộ kinh V, tương ưng đạo, trang 9
[21] Kinh tăng chi bộ I, phẩm Tà kiến, trang 66
[22] Kinh tăng chi bộ I, phẩm tà kiến, trang 70
[23]Kinh trung bộ I, kinh đại phương quảng, số 43, Chánh Kiến,
[24]Kinh tăng chi bộ II, nhiếp thọ, trang 334
[25]Kinh trường bộ II, Kinh Xa ni sa, trang 77
[26] Kinh tăng chi bộ I, tà kiến, trang 66-70
[27] Kinh tương ưng bộ V, tương ưng đạo, trang 19
[28]Kinh tương ưng bộ V, tương ưng đạo, trang 33
[29]Kinh tương ưng bộ V, tương ưng đạo, trang 31
[30] Hữu nghĩa là có, vi nghĩa là làm, hành động. Hữu vi có nghĩalà được hình thành do hành động tạo tác.
[31] Tương ưngbộ kinh III, chươngtươngưng Ràdha, phẩmthứ nhất, V. sa môn
[32] Kinh trung bộ, Đại kinh ví dụ dấu chân voi, số 28
[33] Kinh tương ưng bộ III, Thiên Uẩn, Năm mươi kinh giửa, Thủ chuyển
[34] Kinh Tương ưng bộ III, thiển uẩn, năm mươi kinh giửa, Đầu ngón tay
[35] Kinh Trung bộ, Tiểu kinh Saccaka, số 35
[36] Kinh Tương ưng bộ III, Thiên uẩn, phẩm Nakulapità, Chấp thủ và ưu não VIII
[37] Kinh tương ưng bộ III, Thiên uẩn, Nakulapita
[38] Kinh trung bộ II, kinh trường trảo, trang 350
[39] Kinh trung bộ II, kinh không gì chuyển hướng, trang 162
[40] Kinh trung bộ II, Kinh trường trảo, trang 350
[41] Kinh tương ưng bộ III, Thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, thủ chuyển
[42] Kinh tương ưng bộ III, Thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, năm vị vô ngã
[43] Kinh trung bộ II, kinh trường trảo, trang 351
[44] Kinh Trung bộ III, Kinh Sáu sáu, số 148
[45] Kinh Trung bộ I, Đại kinh ví dụ dấu chân voi, số 28
[46] Kinh Tương ưng bộ IV, Tương ưng thọ, phẩm Sống một mình, Kinh 11
[47] Kinh tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, năm mươi kinh giữa, Asaji
[48] Kinh tương ưng bộ III, Thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, thủ chuyển
[49] Kinh tương ưng bộ III, thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, năm vị vô ngã
[50] Kinh tương ưng bộ III, thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, Thủ chuyển
[51] Kinh tương ưng bộ III, thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, Thủ chuyển
[52] Kinh trường bộ II, kinh Phúng tụng, trang 573
[53] Kinh Tương ưng bộ III, Thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, Đáng được ăn
[54] Ibid, năm vị vô ngã
[55] Kinh Tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, phẩm Nakulapità, I
[56] Ibid, Tương ưng uẩn, phẩm Những gì được ăn thứ III, đáng được ăn thứ VII                  
[57] Kinh tương ưng bộ IV, thiên sáu xứ, 113 nghe trộm
[58] Kinh tương ưng bộ III, thiên uẩn, năm mươi kinh giữa, thủ chuyển
[59] Kinh tương ưng bộ IV, thiên sáu xứ, 93 cả hai
[60] Kinh tương ưng bộ III, thiên Uẩn, năm mươi kinh đầu, Haliddikani
[61] Kinh Trường bộ I, Kinh đại bổn, trang 483
[62] Kinh tương ưng bộ III, tương ưng uẩn, năm mươi kinh sau, vị giử giới
[63] Tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, năm mươi kinh giữa, phẩm trưởng lão, Khemaka
[64] Kinh trung bộ I, Kinh ví dụ con rắn, trang 307
[65] Kinh Tương Ưng bộ III, Thiên Uẩn, năm mươi kinh sau, Dự lưu
[66] Kinh Tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, năm mươi kinh giữa, phẩm hoa, bông hoa
[67] Kinh Trung bộ II, Kinh không gì chuyển hướng, trang 162
[68] Kinh Tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, năm mươi kinh giữa, dây thằng
[69] Kinh Tương ưng bộ IV, Tương ưng tâm, Isidattà
[70] Kinh Tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, phẩm Biên, khổ, trang 282-283
[71] Kinh Tăng chi bộ IV, chương mười pháp, phẩm Song đôi, Lạc và khổ, trang 400-402