Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

ngủ căn và ngủ lực

NGŨ CĂN VÀ NGŨ LỰC
I.GIỚI THIỆU
Bất cứ một tôn giáo hay một chủ thuyết nào trên thế giới này đều lấy niềm tin làm nền móng để xây dựng tổ chức. Tôn giáo đa phần xây dựng niềm tin một cách mơ hồ, thiếu lý trí. Các chủ thuyết khác đa phần đều có nền tảng lý luận logic để tạo lập niềm tin đối với công chúng, tuy nhiên những lý luận đó phần nhiều bị giới hạn bởi không gian và thời gian, cho nên khó có thể truyền bá rộng rãi và tồn tại được lâu dài. Đạo Phật chính thống luôn đặt niềm tin song song với lý trí, chính trí tuệ làm vững chắc niềm tin của người học Phật, tác động nỗ lực của hành giả trong chánh niệm tỉnh giác và tu tập thiền định. Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, những tinh hoa của đạo Phật,  giáo hành Ngũ căn và Ngũ lực được thiết lập theo tiến trình như trên để giúp hành giả tiến sâu đến bờ giải thoát. Sau đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu hai giáo hành này.
II. NỘI DUNG
A. Ngũ Căn
Ngũ căn có nghĩa là năm nền tảng, yếu tố căn bản giúp hành giả tu tập, cho nên cũng được gọi là Năm căn, bao gồm Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, và Tuệ căn.
1.Tín Căn
Nền tảng thứ nhất đó là niềm Tin đối với bậc thầy của mình, đức Thế Tôn. Niềm tin ở đây phải dựa trên nền tảng sự hiểu biết rõ ràng về đức Phật với các tính chất tiêu biểu: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiu Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn.”[1]
Mặc dù ở đây chỉ đơn thuần nói đến niềm tin đối với đức Phật qua các danh hiệu, nhưng để có niềm tin này hành giả phải có trí tuệ nhìn nhận những hành động, lời nói, sinh hoạt của Thế tôn trong khi ngài còn sống mới thấy được. Cho nên tuy đây chỉ nói là niềm tin nhưng vẫn có tuệ, như chúng ta thấy trường hợp vua Pasenadi bày tỏ sự tôn kính đối với đức Phật: “Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên: Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bậc như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
Bạch Thế Tôn, con có pháp truyn thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì". Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiu vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử, Thế Tôn khéo tu tập, hành trì".
Lại nữa bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lị cãi lộn với Sát-đế-lị, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con,con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống với nhau thuận hòa,thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Bạch Thế Tôn,con không thấy ngoài đây ra, có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì"...
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con là một vị vua Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, có thể hành quyết những ai đáng bị hành quyết, gia phạt những ai đáng bị gia phạt, trục xuất những ai đáng bị trục xuất. Nhưng bạch Thế Tôn, khi con ngồi xử kiện, có người đôi khi nói ngắt lời của con. Và con không có dịp để nói: "Này Quý vị, chớ có ngắt lời nói của ta, khi ta đang ngồi xử kiện. Quý vị hãy chờ cho đến khi ta nói xong".Bạch Thế Tôn, thế mà có người vẫn ngắt lời nói của con. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng nhảy mũi hay tiếng ho khởi lên. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: “Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp".Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì".
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này, chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Họ sắp đặt câu hỏi:"Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này. Khi bị ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia". Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng hay thị trấn này". Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại khai thị cho các vị này, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ðược Sa-môn Gotama, với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn! Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Bạch Thế Tôn, như vậy là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì.”[2]
Hiện nay đức Phật không còn ở thế gian nữa, chúng ta không có cơ hội để tận mắt nhìn thấy ngài, vì vậy thật sự là khó khăn cho chúng ta để đặt niềm tin tuyệt đối với ngài.  May mắn thay, các bộ kinh Nikaya ghi lại những lời dạy đầy từ bi và trí tuệ của ngài vẫn còn, chúng ta có thể đọc những bản kinh này kết hợp với tư duy và quán chiếu để hiểu rõ về ngài. Khi nào chúng ta tu tập theo lời dạy của ngài và đạt được các quả vị giải thoát, khi đó niềm tin của chúng ta đối với Phật và Pháp sẽ đứng vững, không bị lay chuyển, nhờ vào trí tuệ của chính mình, như trường hợp của ngài Sàriputta trả lời đức Thế Tôn: Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Pubbakotthaka.Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta: Ông có tin không, này Sàriputta, tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử,lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... Ông có tin không, này Sàriputta, tuệ căn được tu tập,được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh?
Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai, bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng) : "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn với những ai, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn con, bạch Thế Tôn, đã chứng tri,đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; con ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân(tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.”[3]

2.Tấn căn
Điều căn bản thứ hai để tu tập ở đây là sự nỗ lực tinh tấn thực hành các thiện pháp và đoạn trừ các ác pháp, là tứ chánh cần, tinh tấn giác chi, cũng là chánh tinh tấn trong bát chánh đạo: Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Vị ấy đối với các pháp bất thiện chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho không sanh khởi; đối với các pháp bất thiện đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn,quyết tâm, cố gắng làm cho đoạn tận; đối với các thiện pháp chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho sanh khởi; đối với các thiện pháp đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho an trú, không có mê ám, được tăng trưởng, quảng đại, được tu tập, được làm cho viên mãn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.”[4]
3.Niệm căn
Nền tảng tu tập thứ ba là niệm, có nghĩa là ghi nhớ những điều đã qua, chánh niệm, trú tâm tỉnh giác, cũng gọi là tứ niệm xứ: Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng, ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, và lời nói từ lâu. Vị ấy trú, quán thân trên thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.”[5]
4.Định căn
Điều cơ bản thứ tư để tu tập là định, nhất tâm, thuộc về thiền chỉ, gồm bốn tầng thiền: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhất tâm. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thin thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ... an trú Thin thứ hai... an trú Thin thứ ba... từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thin thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo,đây gọi là định căn.”[6]
5.Tuệ Căn
Nền tảng tu tập thứ ba là trí tuệ, sự hiểu biết về nguồn gốc sanh diệt của các pháp, trong đó đặc biệt là phải hiểu rõ Bốn thánh đế: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ v sự sanh diệt của các pháp, trí tuệ thuộc bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau. Vị ấy như thật rõ biết đây là khổ,như thật rõ biết đây là khổ tập khởi, như thật rõ biết đây là khổ đoạn diệt, như thật rõ biết đây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.”[7]
Như vậy, chúng ta đã có định nghĩa đầy đủ về năm căn. Trong đó Tuệ căn có tính chất soi sáng cho các căn kia. Khi hành giả có đầy đủ trí tuệ thì hành giả sẽ có tín, tinh tấn, niệm và định: Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú. Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".”[8]
Tuy nhiên trong quá trình tu tập theo lộ trình ngũ căn, sau khi hành giả đã có niềm tin đối với bậc đạo sư, theo lời dạy của ngài vị ấy tinh tấn nỗ lực, chánh niệm tỉnh giác thực hành thiền định cho đến tứ thiền, quán chiếu Tứ diệu đế để phát sanh trí tuệ, đoạn tận lậu hoặc, chứng đắc cứu cánh Niết bàn. Đến đây ngũ căn mới được tu tập viên mãn: “Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú (avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú.”[9]
Tóm lại, có hai lộ trình tu tập ngũ căn, một là chúng ta quán chiếu về các công hạnh của Phật để phát sanh niềm tin đối với ngài. Tiếp theo đó hành giả nỗ lực tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, tu tập thiền định và quán chiếu Tứ đế để phát sanh trí tuệ. Lộ trình thứ hai đi ngược lại, trong đó hành giả quán chiếu Tứ thánh đế trước, và khi có được cái thấy như thật đối với tứ thánh đế rồi, đồng thời cũng có niềm tin đối với Phật pháp, từ đó phát triển tinh tấn, tu tập thiền định để đoạn tận lậu hoặc. Cả hai lộ trình trước hết đều đưa hành giả bước vào địa vị thánh hữu học, sau đó tu tập để đạt cứu cánh giải thoát: “Có pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa có thể rõ biết: "Tôi là bậc hữu học", Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa, có thể rõ biết: "Tôi là bậc vô học". Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học trú trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là bậc hữu học". Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học như thật rõ biết: "Ðây là khổ", như thật rõ biết : "Ðây là khổ tập khởi", như thật rõ biết: "Ðây là khổ đoạn diệt", như thật rõ biết: "Ðây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt". Ðây là pháp môn, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là bậc hữu học".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học suy nghĩ như sau: "Ngoài Tăng chúng này, có một Samôn hay Bà-la-môn nào khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như ThếTôn hay không?". Và vị ấy rõ biết như sau: "Ngoài Tăng chúng này, không có một Sa-môn hay Bà-lamôn nào khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như Thế Tôn". Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là bậc hữu học".”[10]
B. Ngũ Lực
Ngũ lực thường được gọi là năm sức mạnh, đó là sức mạnh của lòng tin, sức mạnh của tinh tấn, sức mạnh của chánh niệm, sức mạnh của thiền định và sức mạnh của trí tuệ: Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là ThếTôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Ðiu Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu cácthiện pháp, nỗ lực kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tấn lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, thành tựu tối thắng niệm và tuệ. Vị ấy nhớ vàgợi lại trong trí nhớ những điu đã nói và đã làm lâu ngày v trước. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là niệm lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ly các dục,ly các bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thinthứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thin thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ,trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, được các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thin thứ ba. Ðoạn lạc đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thin thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là định lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ v sanh diệt, với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.”[11]
Như vậy, về nội dung Ngũ lực cũng giống như Ngũ căn, tuy nhiên chắc chắn phải có một điều gì đó khác cho nên đức Phật mới nói Ngũ lực riêng ra, theo chúng tôi nghĩ điều khác nhau này có thể nằm ở sự vận dụng của hành giả, nếu hành giả vận dụng năm chi phần này như là những nền tảng để tu tập thì đó được xem là Ngũ căn, nhưng nếu hành giả phát triển làm thành các sức mạnh thì đó là Ngũ lực. Trong kinh Nikaya, Ngũ căn và Ngũ lực không có sự phân biệt rõ ràng, mà được xem gần như nhau: “Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?
Cái gì là tín căn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn. Cái gì là tấn căn,cái ấy là tấn lực. Cái gì là tấn lực, cái ấy là tấn căn... Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực,cái ấy là tuệ căn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông thiên v phương Ðông, hướng v phương Ðông, xuôi vphương Ðông, và giữa con sông có hòn đảo. Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một. Nhưng này các Tỷ-kheo, lại có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai.
Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, được tính là một? Này các Tỳ-kheo,nước cuối phía Ðông và nước cuối phía Tây của hòn đảo ấy được tính là một dòng. Này các Tỷ-kheo,đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một.
Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai? Này các Tỷ-kheo, nước cuối phía Bắc và nước cuối phía Nam của hòn đảo ấy được tính là hai dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng sông ấy được tính là hai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì là tín căn, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn... Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.
Này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn năm căn này, Tỷ-kheo đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không có lậu hoặc.”[12]
III. KẾT LUẬN
Trong quá trình tu tập, Ngũ căn và Ngũ lực luôn luôn gắn bó với hành giả, cũng chính là năm điều căn bản và là năm sức mạnh giúp người tu tập đạt đến địa vịa giải thoát. Cho nên, là một hành giả tu tập theo đạo Phật, năm điều này là không thể thiếu, nếu cố gắng phát triển năm căn này đến viên mãn, thì chắc chắn sẽ được cứu cánh giải thoát, nếu vẫn còn yếu thì vẫn vào được địa vị thánh hữu học: Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.
Với sự đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn (Upahacca parinibhàvii). Yếu nhẹ hơn là bậc Vô hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Hữu hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Thượng lưu,đạt đến Sắc cứu cánh thiên. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai.Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.”[13]
Giáo pháp được đức Phật khéo thuyết giảng là “thiết thực hiện tại, vượt thoát thời gian, đến để mà thấy”, đòi hỏi hành giả phải áp dụng tu tập mới có thể hiểu được. Ngũ căn và Ngũ lực cũng vậy, là những pháp hành, là những nền tảng và sức mạnh để tu tập, đưa đến giải thoát giác ngộ: Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tấn căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Niệm căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Ðịnh căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ.”[14]
Tuy nhiên, chúng tôi ở đây, ý chí kém cỏi, trí tuệ chậm chạp, chưa thể thực hành viên mãn các thiện pháp này, nên chỉ dựa vào kinh điển Nguyên thủy ghi chép lại mấy điều, không sao tránh khỏi thiếu sót, mong rằng các bậc thánh trí có thấy, kính xin chỉ bày, để những kẻ hậu học ngày sau biết đường tu tập.



[1] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 307
[2] Kinh trung bộ II, kinh pháp trang nghiêm, số 89
[3] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 344
[4] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 309
[5] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 309
[6] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 310
[7] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 310
[8] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 347
[9] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 355
[10] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 357
[11] Kinh tăng chi bộ II, chương năm pháp, trang 319
[12] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 342
[13] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, tran 314
[14] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 354

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét