NGŨ UẨN
---0-O-0---
1.Giới Thiệu
Trong
thế giới mà chúng ta đang sống, tất cả vạn vật được tạo nên do sự vận động và
biến đổi của vật chất và tâm thức hay còn gọi là danh và sắc, cho nên thế giới
này còn được gọi là thế giới hữu vi[1],
các hành, hay thế giới của năm uẩn. Tất cả khổ đau đều bắt nguồn từ năm uẩn này
và để giải thoát khổ đau cũng có nghĩa là phải thoát khỏi năm uẩn này. Vì vậy,
vấn đề hiểu rõ năm uẩn là hết sức cần thiết đối với một người muốn giải thoát
khổ đau. Đối với người xuất gia đệ tử Phật, nếu không thông hiểu năm uẩn thì
không xứng đáng là người xuất gia, hành Sa môn hạnh, không thể đạt đến giác ngộ:
“Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các
Tỷ-kheo, không như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm,
sự xuất ly của năm thủ uẩn này, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp
nhận là Sa-môn giữa các vị Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa
các vị Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy không thể ngay trong hiện tại, tự
mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh hay
mục đích của Bà-la-môn hạnh.”[2]
Trong
kinh điển Nguyên Thủy, giáo lý Năm uẩn có một vị trí quan trọng không kém với
giáo lý Duyên khởi, được trình bày rất nhiều lần trong các bộ kinh Nikaya, đặc
biệt được tập hợp thành ba chương trong Kinh Tương ưng bộ III, do đó chúng ta
thấy đây là một giáo lý cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Phật giáo.
Trong kinh điển hệ Phát triển, giáo lý năm uẩn cũng rất được coi trọng, được tập
thành một bộ kinh đồ sộ, “Kinh Đại Bát Nhã”. Trong bài Bát nhã tâm kinh, chủ yếu
nói về trí tuệ hiểu rõ Năm uẩn, một bài kinh thường được tụng đọc ở trong hệ
phái Phật giáo phát triển, thậm chí còn được khắc bản để thờ ở các chùa, đã xác
định được giá trị của vấn đề thông hiểu năm uẩn qua việc chỉ ra rằng: “ba đời
chư Phật đều nương vào trí tuệ hiểu rõ năm uẩn mà thành Phật” (Tam thế chư Phật
y Bát nhã ba la mật đa cố đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề).
Trải
qua thời gian, người thực hành và chứng đắc càng lúc càng hiếm nên những giáo
lý cốt lõi như vậy cũng không khỏi bị bỏ quên. Vẫn biết rằng tất cả các pháp hữu
vi có sanh đều phải hủy diệt, tuy nhiên những giáo lý căn bản như NgũUẩn nếu
duy trì được thêm ngày nào thì lợi lạc cho trời người ngày đó, nên chúng tôi cố
gắng tập hợp lại nơi đây để những ai hữu duyên có thể thấy pháp, hiểu pháp, và
chứng ngộ giải thoát.
2. Nội Dung
Ngũ uẩn có nghĩa là năm nhóm, tổ hợp,
tạo nên thế giới này. Bao gồm nhóm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và
nhóm thức uẩn. Sắc uẩn thuộc về vật chất, bốn uẩn còn lại thuộc về tinh thần.
Vì vậy, tất cả những cảm xúc vui buồn, sướng khổ, hơn thua... đều bắt nguồn từ
nơi năm uẩn này. Do đó, để vượt thoát ra khỏi khổ đau, thành tựu Niết bàn hành
giả phải thông hiểu Năm uẩn này.
2.1.
Sắc Uẩn
Sắc uẩn là nhóm vật chất bao gồm đất
(chất rắn), nước (chất lỏng), gió (chất khí), và lửa (hơi ấm). Sắc uẩn có nội sắc
và ngoại sắc. Nội sắc là vật chất tạo nên thân thể chúng ta và ngoại sắc là môi
trường vật chất bên ngoài: “Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên
từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới,
phong giới.
Chư Hiền, thế
nào là địa giới? Có nội địa giới, có ngoại địa giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa
giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ,
như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành
cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác
thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy
gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới
đều thuộc về địa giới…
Chư Hiền, thế
nào là thủy giới? Có nội thủy giới, có ngoại thủy giới. Chư
Hiền thế nào là nội thủy giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc
nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ, như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt,
mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu, và bất cứ vật gì
khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ.
Chư Hiền, như vậy gọi là nội thủy giới. Những gì thuộc nội thủy giới và những
gì thuộc ngoại thủy giới, đều thuộc về thủy giới…
Chư Hiền, thế
nào là hỏa giới? Có nội hỏa giới, có ngoại hỏa giới. Chư Hiền, thế nào là nội hỏa
giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc về cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị
chấp thủ. Như cái gì khiến cho hâm nóng, khiến cho hủy hoại, khiến cho thiêu
cháy; cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai, nếm, có thể khéo tiêu hóa,
hay tất cả những vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất
nóng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội hỏa giới. Những gì thuộc nội hỏa
giới và những gì thuộc ngoại hỏa giới, đều thuộc về hỏa giới….
Chư Hiền, thế
nào là phong giới? Có nội phong giới, có ngoại phong giới. Chư Hiền, thế nào là
nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc động
tánh, bị chấp thủ, như gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong ruột, gió trong
bụng dưới, gió thổi ngang các chi tiết (tay chân), hơi thở vô, hơi thở ra, và bất
cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp
thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội phong giới. Những gì thuộc nội phong giới và
những gì thuộc ngoại phong giới đều thuộc về phong giới…
Chư Hiền,
như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được
biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương,
bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.”[3]
Tất cả sự vật hiện tượng thuộc vật chất
trong thế giới này đều được hình thành từ bốn yếu tố này, gọi là bốn đại, chúng
nương tựa vào nhau mà tồn tại, được nuôi dưỡng và duy trì bởi thức ăn từ ngoại
sắc. Như cơ thể con người, bao gồm chất rắn (xương, thịt, tóc, móng…), chất lỏng
(máu, dịch…), chất khí (hơi thở), và hơi ấm, được nuôi dưỡng và duy trì nhờ cơm
cháo thuốc men, oxy, và nhiệt độ. Nếu thiếu một trong bốn chất này tức là thiếu
thức ăn, nước, oxy, hoặc không đủ ấm thì cơ thể chúng ta sẽ tan rã: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại
chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc.
Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn
diệt.”[4]
Như vậy, cơ thể chúng ta hay bất cứ một
vật gì được tạo bởi những yếu tố không phải là chính nó đều không thể tồn tại
lâu dài. Vì sao? Một cái gì mà chúng ta vây mượn thì một ngày nào đó phải trả
nó về lại cho chủ của nó, hơn nữa trong cơ thể này lại vây mượn tới bốn yếu tố,
buộc chúng phải đoàn kết với máu là điều vô cùng khó, khi một yếu tố nào yếu thế
rút lui hay bực tức tăng lên, coi như cơ thể này xong. Cho nên trong kinh đức Phật
thườn xuyên dạy: “Này Tỷ-kheo, cho đến một
sắc nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến
hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú. Nếu một sắc nhỏ như thế này, này Tỷ-kheo,
là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường
hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể
trình bày. Nhưng vì rằng, này Tỷ-kheo, cho đến một sắc nhỏ như thế này cũng
không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn
thường hằng, vĩnh trú, do vậy, đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ
đau có thể trình bày.”[5]
Khi thấy rõ điều này rồi, ai còn có
thể xem nó là mình, là của mình nữa không? Vì bất cứ cái gì được xem là mình,
là của mình, khi cái ấy bị hư hoại hay mất đi, chúng ta sẽ đau khổ vô cùng, như
một chiếc xe Honda ở trong Salon chưa được mua về thì nó có hư hỏng hay mất đi
chúng ta cũng chẳng bận tâm, nhưng khi đã mua về rồi và được xem là của ta rồi,
nếu nó có bề gì thì chúng ta sẽ bị sầu não. Như vậy những đau khổ này do đâu mà
có, có phải vì ý nghĩ “nó là của mình” không? Có thể, bất cứ ai khi nghe nói điều
này điều cảm thấy khó hiểu, và chính bản thân người viết cũng đã từng như vậy,
nhưng khi đọc đoạn kinh sau rồi thì thấy nó rất thật:
“Này
Aggivessana, Ta sẽ hỏi Ông trở lại về vấn đề này. Ông có thể trả lời nếu Ông muốn.
Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Một vị vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh,
như vua Pasenadi nước Kosala, vua Ajatasattu con bà Vedehi nước Magadha, vua
này có quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn
tước đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất
không?
Tôn giả
Gotama, một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, như vua Pasenadi nước Kosala,
vua Ajatasattu, con bà Vedehi nước Magadha , vua này có quyền hành
trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước đoạt những
ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất. Này Tôn giả
Gotama, cho đến các giáo đoàn, các đoàn thể, như các Vajji, các Malla, vẫn có
quyền hành trong quốc gia của mình, muốn giết những ai đáng bị giết, muốn tước
đoạt những ai đáng bị tước đoạt, muốn tẩn xuất những ai đáng bị tẩn xuất, còn
nói gì một vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, nhưvua Pasenadi nước Kosala, vua
Ajatasattu con bà Vedehi nước Magadha. Này Tôn giả Gotama, vị ấy có quyền hành ấy
và xứng đáng có quyền hành ấy.
Này
Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Như Ông nói: "Sắc là tự ngã của ta",
Ông có quyền hành gì đối với sắc ấy và có nói được rằng: "Sắc của tôi như
thế này, sắc của tôi không phải như thế này" không?”[6]
Có lẽ, chúng ta rơi nước mắt nhiều
trong cuộc sống này là vì ý nghĩ “con tôi, vợ tôi, chồng tôi, nhà của tôi, xe của
tôi…”
Tất cả các pháp hữu vi luôn sanh diệt
biến chuyển theo một dòng chảy tự nhiên, cho nên chúng ta không thể nắm giữ
chúng, hay bắt buộc chúng phải tuân theo ý mình. Tại sao vậy? Vì nó là đất, là
nước, không khí, hay hơi ấm, vốn có trong tự nhiên, nó thật sự là không phải
ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta. Tuy vậy, nếu chúng ta tham đắm
chúng, muốn nó thuộc của mình, thì chúng ta sẽ khổ đau: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Đây là của
tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi". Sắc ấy của vị này biến hoại, đổi khác.
Vị này khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.”[7]
Là chúng sanh trong cõi dục, bị năm uẩn
trói buộc, nhưng nếu là bậc Vô lậu thì khổ đau vẫn còn do phải mang cái thân
này. Như đức Phật và các vị đại đệ tử của ngài, dù đã giải thoát nhưng vì còn
mang cái sắc thân này nên nhiều lúc cũng bệnh hoạn, ốm đau, tuy nhiên khi thân
bị đau tâm của các ngài không dao động như những người phàm phu. Và ngài cũng
thường dạy các đệ tử như vậy: “Thật sự là
vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ,
là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại
tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu!
Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: "Dầu cho thân tôi
có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh". Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học
tập.”[8]
Ngày nay, có nhiều người đến với đạo Phật
để học thiền nhằm để trị thân bệnh, tuy có một số lợi ích, nhưng điều này lại
đi ngược lại với những gì Phật dạy rằng “thân
này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường,
biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường,
khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng,
như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã.”[9]
Khi đã thấy được rằng phải mang sắc
thân này là khổ đau, không thể nào khác được, chúng ta sẽ cảm nhận được sự an lạc
của một cảnh giới không phải bị trói buộc bởi sắc: “Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh
tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ
không có những sự việc này trong cõi sắc.”[10]
2.2.
Thọ Uẩn
Thọ uẩn là nhóm bao gồm các cảm xúc
vui buồn, dễ chịu khó chịu, thích thú không thích thú, sướng khổ... Tất cả những
cảm thọ này tuy rất đa dạng nhưng dựa trên tính chất của nó thì có thể chia
thành ba loại bao gồm cảm thọ khó chịu, cảm thọ dễ chịu, và cảm thọ trung tính,
hay cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, và cảm thọ không khổ không lạc: “Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ
thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính
khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác
lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm
giác lạc thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này
Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm
giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.”[11]
Tất cả những cảm thọ đến từ sự tiếp
xúc giữa sáu giác quan và các đối tượng của chúng như mắt và các hình ảnh, tai
và các tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp. Khi sự tiếp xúc
xảy ra thì cảm thọ hiện hữu, khi sự tiếp xúc chấm dứt thì cảm thọ không còn nữa.
Và vì có sáu điểm phát sinh xúc nên cảm thọ được chia làm sáu loại: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các
Tỷ-kheo, có sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do
tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn
diệt nên thọ đoạn diệt.”[12]
Tất cả vui buồn của cuộc sống đều
phát sanh từ sáu giác quan khi tiếp xúc với đối tượng ưng ý hay không ưng ý. Vì
những cảm xúc này do duyên nơi đối tượng phát sanh nên rõ ràng chúng không có tự
ngã, không thể tự duy trì và tồn tại. Đồng thời, khi các đối tượng được cảm nhận
biến đổi thì cảm thọ cũng biến đổi theo, cho nên tất cả cảm thọ rất mong manh,
và ngắn ngủi, không có tự thể, và chúng ta không thể làm chủ được cảm thọ của
mình: “Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã.
Này các Tỷ-kheo, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể
được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của
tôi chẳng phải như thế này!" Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy,
thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi
như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"[13]
Trong thế giới này, hết thảy chúng
sanh sống theo bản năng và bị thôi thúc bởi tham dục, luôn luôn đi tìm cầu những
vị ngọt của cảm thọ. Nắm được bản chất ham muốn của con người, các nhà sản xuất
luôn luôn cố gắng tạo ra những món hàng hấp dẫn khách mua ở nơi mắt, tai, mũi,
miệng, thân, và thậm chí cả ý. Và vì tất cả cảm thọ đều vô thường, mới đầu thì
thấy hấp dẫn nhưng lâu rồi cũng chán, như khi nghe một bài hát hay ai cũng muốn
nghe lâu hơn, nhưng khi nghe nhiều lần rồi cũng chán. Cho nên dù bao nhiêu sản
phẩm, thú vui… được tạo ra nhưng con người chưa bao giờ biết thỏa mãn, cho nên
chúng ta thấy thọ là không thường hằng, ngược lại chúng rất ngắn ngủi, vì khi
có xúc thì thọ hiện hữu, hết xúc thì chúng cũng mất, và xúc cũng là sự kết hợp
của các giác quan, đối tượng, và nhận thức nên không tồn tại lâu dài. Như vậy
thọ luôn luôn bị biến diệt: “Này
Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy
hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi,
do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này
Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn
diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.”[14]
Là một chúng sanh, tâm luôn bị chi phối
bởi ba cảm thọ này, cảm thọ lạc thì khởi tâm tham, cảm thọ khổ thì khởi tâm
sân, cảm thọ không khổ không lạc thì khởi tâm si. Và bất cứ ai khi tâm bị chi
phối bởi tham, sân, và si thì không tránh khỏi khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não: “Này các Tỷ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc,
khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba (pháp này) là xúc. Do duyên xúc, khởi lên
lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ,
tán thán, trú ở ái trước. Tham tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van,
than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Sân tuỳ miên của vị ấy
tuỳ tăng. Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không
như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi
cảm thọ ấy, vô minh tuỳ miên của vị ấy tuỳ
tăng.
Này
các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tuỳ miên đối
với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tuỳ miên đối với khổ thọ,
do không nhổ lên vô minh tuỳ miên đối với bất khổ bất lạc
thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho mình khởi lên, có thể ngay trong hiện
tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.
Này
các Tỷ-kheo, do duyên tai và do duyên các tiếng, khởi lên nhĩ thức. Này các Tỷ-kheo,
do duyên mũi và do duyên các hương khởi lên tỷ thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên
lưỡi và do duyên các vị khởi lên thiệt thức. Này các Tỷ-kheo, do duyên thân và
do duyên các xúc khởi lên thân thức.
Này
các Tỷ-kheo, do duyên ý và do duyên các pháp khởi lên ý thức. Sự gặp gỡ của ba
(pháp này) là xúc. Do duyên xúc khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc
thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước, tham tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm
xúc khổ thọ mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tuỳ miên của vị ấy tuỳ tăng. Vị ấy do cảm
xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt,
sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tuỳ
miên của vị ấy tuỳ tăng.
Này
các Tỷ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tuỳ miên đối
với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tuỳ miên đối với khổ thọ,
do không nhổ lên vô minh tuỳ miên đối với bất khổ bất lạc
thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện
tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.”[15]
Khi cảm thọ một cảm thọ lạc, ai
cũng muốn kéo dài cảm thọ đó nhưng điều kiện không chó phép, như khi ăn một món
ngon ai cũng muốn ăn thêm nhưng cái bụng không cho phép. Khi phải cảm thọ một cảm
thọ khổ, ai cũng muốn nó chấm dứt ngay điều đó thật khó, như khi bị bệnh ung
thư, thân thể đau nhức, mọi người đều muốn nó hết chấm dứt ngay, nhưng nó là
chuyện của thân này, không phải của ta, nên thật là khó làm theo ý muốn của
mình. Tuy nhiên, ít ai thấy rõ điều đó, nên họ thường tham đắm những cảm thọ lạc
và chống đối với cảm thọ khổ, cho nên khổ càng tăng trưởng thêm. Ngược lại, nếu
người nào thấy được bản chất của sự vật là như vậy, và giữ tâm thư thản thì khổ
sẽ giảm bớt: “Chư Hiền, nếu có những người
khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau:
"Khổ thọ khởi lên nơi tôi, thọ này thuộc tai xúc chạm, thọ này do nhân
duyên, không phải không do nhân duyên, do nhân duyên gì? Do nhân duyên
xúc". Vị ấy thấy xúc là vô thường, thấy thọ là vô thường, thấy tưởng là vô
thường, thấy hành là vô thường, thấy thức là vô thường. Tâm của vị này hoan hỷ,
thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.
Chư
Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp,
không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy
xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: "Sự thể của thân
này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm,
gươm có thể xúc chạm.”[16]
Như vậy, khi còn bị trói buộc bởi
thân tứ đại này thì việc tìm cầu cảm thọ lạc, né tránh cảm thọ khổ là những điều
không phải dễ. Hơn nữa, chính cảm thọ lạc cũng luôn đi kèm theo với khổ, vì bản
thân thọ chỉ là những biểu hiện của cảm xúc, phụ thuộc vào tần số rung động của
thức (thói quen cảm nhận). Ví dụ, khi ta vừa ăn chè, sau đó liền ăn xoài thì sẽ
cảm thấy xoài chua, nhưng nếu ăn xoài trước thì thấy xoài ngọt. Như vậy, cảm
giác ngọt hay chua ở đây chi là ảo giác nên nó không thật. Tuy nhiên, phần lớn
chúng ta chạy theo những ảo giác này như uống rượu, ăn ớt, xức dầu nóng khi bị
ngứa... Tóm lại, cảm thọ luôn ẩn chứa khổ đau: “Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc
thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái
gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô
thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ,
cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu
vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được
Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ".”[17]
Sống trên cuộc đời này chủ yếu là
cảm thọ, nhưng đức Phật dạy tất cả cảm thọ đều khổ cả, vậy cái gì là không khổ?
Câu trả lời rõ ràng là không cảm thọ thì không khổ. Nếu ai còn nặng về tham ái,
hay chưa thật sự thấy thọ là khổ, chưa thấy khổ đau phải ngồi hàng giờ để câu một
con cá, như con ngựa trời đậu nơi cành hoa ngày này qua ngày khác dù trời mưa
gió để chờ bắt con ong, thì không thể thấy sự an lạc của không thọ, diệt tận Niết
bàn: “Nếu vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng
tận về thân, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về
thân". Nếu vị ấy cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết
rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng". Vị ấy biết
rõ rằng: "Khi thân hoại mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ
cùng tận, ở đây tất cả những gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ
trở thành thanh lương!"
Ví
như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ.
Khi dầu và tim bấc của (ngọn đèn) ấy đoạn tận, không có mang lại nhiên liệu, ngọn
đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ cùng tận
về thân, vị ấy biết rõ: "Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về
thân". Khi cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng, vị ấy biết rõ:
"Ta đang cảm giác một cảm thọ cùng tận về sinh mạng". Sau khi thân hoại
mạng chung trên cho đến khi sinh mạng đi đến chỗ cùng tận, ở đây tất cả những
gì vị ấy cảm thọ, tất cả những gì vị ấy hoan hỷ, sẽ trở thành thanh lương!”[18]
2.3. Tưởng uẩn
Có những lúc ngồi một mình với bụng
đói nhừ, hình ảnh những món ăn như Phở, bún, cơm, cháo... bắt đầu xuất hiện
trong đầu chúng ta từ vẻ bên ngoài cho đến mùi vị. Đó là chúng ta đang tưởng về
những điều đáng mong muốn, đôi lúc có những điều không đáng mong muốn nhưng
chúng vẫn cứ lảng vảng trong óc chúng ta như chuyện bị xấu hổ trước đám đông, bị
làm nhục, bị hành hung... Như vậy, tưởng là hoạt động của ý, có chức năng tái
hiện lại những hình bóng của sắc, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, hay pháp, là nhớ
tưởng, tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng… “Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc
tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là tưởng.”[19]
Vậy, tưởng là một trạng thái tâm lý
sanh ra do ý tiếp xúc với hình bóng cũ được thu vào từ mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân hay ý. Khi sự tiếp xúc này xảy ra thì tưởng có mặt và khi sự tiếp xúc này
chấm dứt thì tưởng cũng không còn nữa. Như vậy tưởng cũng hết sức mỏng manh,
không có tự ngã, bị lệ thuộc, không thể thường còn, thường hằng bất biến: có
khi chúng ta không muốn nhớ lại những quá khứ tội lỗi của mình nhưng nó vẫn hiện
ra, có những chuyện chúng ta muốn nhớ lại nhưng không tài nào nhớ nổi. Cho nên
tưởng thường không hoạt động như ý của chúng ta:“Các tưởng là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các tưởng là ngã, thời các
tưởng không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các tưởng như sau: "Mong rằng
các tưởng của tôi như thế này! Mong rằng các tưởng của tôi chẳng phải như thế
này!"[20]
Là con người bình thường, luôn luôn sống
trong tưởng, ham thích trong tưởng, bị tưởng chi phối, không thoát ra khỏi tưởng.
Đối với những người như vậy, tưởng là lẽ sống của họ, là niềm vui, là chất liệu
để họ tồn tại, và không ai biết rằng tưởng là khổ đau, thậm chí họ cũng không
biết tưởng là gì cả, vì họ đã đồng nhất tưởng với chính họ, là một yếu tố không
thể tách rời đối với cuộc sống của họ, do đó nó thật sự là không cần thiết để họ
biết đến tưởng. Nhưng đối với một người hành thiền, muốn tìm cầu giải thoát khổ
đau thì tưởng lại thật sự là bệnh hoạn, cục bướu, mụn nhọt, vì khi hành thiền họ
muốn nhất tâm thì tưởng lại xuất hiện với những hình bóng của sắc, thanh,
hương, vị, và xúc thì vô cùng khổ đau. Trong trường hợp như vậy, hành giả quán
sát tưởng để thấy đâu là khổ đau, như những gì đã được đức Phật phân tích cặn kẽ
trong kinh để cho những người nào muốn thoát khỏi khổ đau thấy rõ, để rồi biết
cách tu tập giải thoát. Thật vậy, nếu tu tập mong cầu giải thoát mà không biết
rõ tưởng hay năm uẩn thì thật sự khó có thể thấy được đạo giải thoát: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này
các Tỷ-kheo, có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng,
xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên
tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo
tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh
định.
Này các Tỷ-kheo,
những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các hành là như vậy, thắng tri các
hành tập khởi là như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri
con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện yếm ly,
ly tham, đoạn diệt các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai
khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.”[21]
2.4.
Hành Uẩn
Là nhóm của những hành động nơi thân,
miệng, và ý. Tuy nhiên, ý hành vẫn được xem là chủ chốt vì tất cả hành động nơi
thân và miệng đều do ý làm chủ. Trước khi làm một việc hay nói một lời, ý thường
suy nghĩ, tư duy, sắp đặt kế hoạch cho việc đó rồi mới ra lệch cho hai bộ phận
kia thực hiện. Do vậy, nhiều khi nói đến hành đức Phật chỉ đơn giản nói đến ý
hành mà không đề cập đến hai hành động kia, và kết hợp với đối tượng được ý suy
tư hành được chia làm sáu loại: “Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân hành này: sắc tư, thanh tư, hương
tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hành. Do xúc tập khởi
nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt.”[22]
Theo duy vật biện chứng thì các sự vật
hiện tượng trong vũ trụ luôn vận động và biến đổi, và chính nhờ sự vận động này
mà nó được tồn tại. Trong đạo Phật, thế giới của chúng ta đang sống được gọi là
thế giới hữu vi, có nghĩa là do hành động tạo ra, và tất cả các sự vật hiện tượng
thường được gọi là các hành, vì nhờ hành mà chúng được có mặt và duy trì: “Tất cả loài hữu tình do các món ăn (àhàra)
mà an trú, tất cả loài hữu tình do các hành (samkhàrà) mà an trú. Này các Hiền
giả, đó là một pháp được Thế Tôn, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác, thuyết giảng một cách chơn chánh.”[23] Do
đó, mặc dù gọi thế giới này là thế giới của năm uẩn, nhưng tất cả các uẩn khác
đều do hành uẩn tạo ra: “Này các Tỷ-kheo,
thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho
hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện
hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện
hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện
hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành”.[24]
Hơn nữa, hành cũng do xúc mà có và
khi xúc diệt thì hành cũng diệt, cho nên hành cũng vô ngã, vô thường biến hoại.
Và như vậy, thật sự là khó để chúng ta có được các hành lúc nào cũng như ý
mình, một người đầu bếp giỏi không thể nấu được những món ăn ngon nếu không đủ
nguyên liệu, một cầu thủ bóng đá không phải bao giờ cũng chơi hay... “Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã.
Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng
các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế
này.”[25]
Cho nên, nếu chúng ta chấp thủ vào hành và cho nó là mình là của mình hay tự
ngã của mình thì khi hành không còn theo ý mình nữa, bị thay đổi biến hoại, chắc
chắn chúng ta sẽ bị thất vọng và đau khổ: “Vị
ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở
trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: "Các hành là
ta, các hành là của ta". Do bị ám ảnh: "Các hành là ta, các hành là của
ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy
khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!”[26]
2.5.
Thức Uẩn
Đối với một em bé hai tuổi, nếu ai
cho một túi tiền một tỷ Mỹ kim, chắc chắn em sẽ không vui lắm (thọ), nhưng nếu
chúng ta cho em một cái bánh hay một con búp bê thì em sẽ rất vui. Một túi tiền
đối với em bé có thể chỉ là một món đồ chơi, em có thể tháo tung nó ra rồi
quăng lên khắp nhà, ngoài ra nó chẳng có giá trị gì cả. Tại sao vậy? Vì trong
nhận thức của một em bé hai tuổi chưa có khái niệm về tiền và những giá trị của
nó. Một ví dụ khác về thức đó là giá trị của cổ vật như một cái bát sứ năm trăm
tuổi, đối với một người rành đồ cổ hay thích chơi đồ cổ thì rất quý cái bát và
đối với những người đó nó có giá đến vài chục triệu đồng, nhưng với một người
không biết gì về đồ cổ thì cái bát đó cũng như những cái bát khác thậm chí là
không có giá trị gì cả. Như vậy, thức là sự nhận biết, phân biệt:“Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ
biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng,
rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm,
rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức”.[27]
Đối với em bé hai tuổi, chưa có nhận
thức đầy đủ về tiền, khi được cho một tỷ Mỹ kim em chỉ vui mừng (thọ) như cho một
món đồ chơi xấu xí nào đó, nhưng nếu đem cho chúng ta số tiền đó thì chắc chắn
niềm vui (thọ) sẽ rất lớn. Một trường hợp khác là khi ta thấy một sợi dây mà
nghĩ (thức) là con rắn liền cảm thấy sợ hãi (thọ) Như vậy thức có vai trò chính
quyết định tính chất của thọ, về mặt tương đối nếu nhận thức đúng thì cho ra thọ
đúng, nếu nhận thức sai thì thọ sai. Như vậy thức là một trong ba yếu tố tạo
nên thọ: “Do duyên mắt và các sắc khởi
lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ…”.[28]
Trong trường hợp ngược lại, chính thọ
cũng góp phần tạo nên thức trong chuỗi vận hành của danh (xúc, tác ý, thọ, tưởng,
tư). Trong tiến trình này, thức được hình thành sau sự tiếp xúc có tác ý của
căn trần đưa đến cảm nhận, rồi hồi tưởng và tư duy. Nhận thức càng nhạy bén khi
được tiếp xúc, tác ý, hồi tưởng, và suy tư nhiều lần: như một món ăn, nếu ta ăn
nhiều lần rồi thì khi ngửi mùi là biết (thức) ngay đó là món gì và sự thèm khát
(thọ) khởi lên ngay, hay một người thân khi nghe giọng nói qua điện thoại là ta
nhận ra ngay là ai và cảm thọ vui hay giận sẽ đến. Nhưng nếu là món ăn mà chúng
ta chưa bao giờ được nếm nếu chỉ ngửi mùi thôi thì không biết (nhận thức về món
ăn đó chưa có) được là món gì, hay một người mà chưa bao giờ gặp thì khi nghe
tiếng qua điện thoại chúng ta không thể nhận biết (thức) được hình dạng của người
đó cho nên thọ chưa khởi lên. Như vậy thức ở đây được hình thành khi căn và trần
gặp nhau (sắc) cùng với sự tham gia của danh: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này, này các Tỷ
-kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do
danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt.”[29]
Như vậy, thức do danh sắc hình thành
và khi danh sắc diệt thì thức diệt, cho nên thức cũng vô ngã, không thể thường
thằng, thường trú. Ngược lại thức luôn biến đổi theo sự biến đổi của danh sắc:
“Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn
thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến
hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường,
biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi
khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô
thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ
một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được?”[30]
Đối với tất cả sự kiện trong cuộc sống,
nếu chúng ta chịu khó tư duy, nhìn nhận một chút thì sẽ thấy được nhiều điều rất
thú vị và vô cùng giá trị đối với bản thân và thế giới xung quanh, đặc biệt đối
với nhận thức con người nếu để tâm quan sát một chút thì sẽ thấy nó thay đổi rất
nhiều từ niềm tin cho đến quan điểm: trước đây chúng ta không tin đạo Phật
nhưng giờ lại tin, trước đây sống ích kỷ nhưng giờ vị tha hơn, và ngược lại… Vì
vậy, đối với nhận thức, chúng ta luôn tìm cách mở rộng kiến thức để có nhận thức
phù hợp, càng lúc càng có tính chính xác cao, không bị trói buộc vào bất cứ một
chủ nghĩa hay định kiến nào. Tất cả những phân biệt chủng tộc, giáo phái, tôn
giáo, chủ nghĩa... đều đưa nhân loại đến đấu tranh và hoại diệt. Phân biệt đối
xử là một trong những hoạt động phát sanh từ nhận thức, điều này dẫn đến đau khổ
cho cả người phân biệt đối xử và cả người bị phân biệt đối xử. Vì rằng, khi
chúng ta phân biệt đối xử một người nào đó, tất nhiên những tâm tiêu cực sẽ khởi
lên quấy rối chúng ta như ganh ghét, khó chịu, bực bội... còn người bị phân biệt
với tâm chưa giải thoát sẽ cảm thấy bị khinh bỉ, xúc phạm, làm nhục… Như vậy, bị
chấp thủ trói buộc bởi thức là khổ đau, thoát khỏi thức là hết khổ đau: “Ðối với thức giới, này Gia chủ, cái gọi là
dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên
chấp, tùy miên; sự đoạn tận chúng, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, từ khước chúng một
cách hoàn toàn; như vậy gọi là tâm khéo giải thoát.”[31]
3.
Quán Chiếu Năm Uẩn
Trong tâm lý học lâm sàng, phương
pháp trị liệu một bệnh nhân có chứng sợ bóng đêm hay sợ đám đông… thường được
thực hiện theo ba bước: thứ nhất là thư giãn bằng cách buông thư hoặc thiền
chánh niệm, thứ hai là niệm thầm một câu như “không có gì sợ cả” hay “ở đây
không nguy hiểm”, bước kế tiếp là cho bệnh nhân tiếp cận dần với tình huống.
Trong Phật giáo, tất cả những phàm phu đều có vấn đề về tâm thần vì đối với cái
vô thường lại cho là thường hằng, đối với cái khổ lại cho là lạc, đối với cái
vô ngã lại cho là ngã... cho nên phương pháp trị liệu cũng có những bước như
Tâm lý học hiện đại, tức là trước hết hành giả dùng thiền chỉ để giữ tâm yên
bình, sau đó dùng thiền quán bằng cách tác ý về vô thường, khổ, vô ngã… để thay
đổi nhận thức. Đôi lúc cũng dùng phương pháp tiếp cận như quán tử thi, quán bất
tịnh, v..v..
Như vậy, phương pháp thiền định trong
Phật giáo hết sức khoa học, rõ ràng và thực tế, và được đức Phật chỉ dạy rất
chi tiết trong toàn bộ kinh Nikaya hay A hàm. Tuy nhiên, do không chịu học hỏi
và thực hành nên đã bỏ qua những lời dạy thâm thúy của Phật rồi tự mình đưa ra
nhiều phương pháp sai lạc. Ngày nay, chúng ta may mắn được tiếp cận với khoa học
hiện đại, có nhiều cơ hội để đối chiếu giữa những lời dạy của Phật và các khoa
học khác, từ đó rút ra những gì là sai lầm do các vị đi trước đưa vào sau khi Phật
nhập diệt, và những gì là chính ngôn do đức Phật giảng dạy. Nhờ đó chúng ta mới
có được nhiều lợi ích từ những lời dạy của Phật.
Trong thiền định Phật giáo, thiền
quán được sử dụng để đoạn nghiệp thức vốn được hình thành do thói quen nhìn nhận
sự vật với ngã tướng. Nếu như thông thường nghiệp thức được hình thành do sự gặp
nhau giữa các giác quan và đối tượng cùng với tác ý có ngã tướng (vuông, tròn,
cao, thấp...), lạc tướng, thường hằng tướng... khiến cho tham dục, sân hận và
si ám ngày càng tăng trưởng, để tiêu diệt nghiệp thức chúng ta chỉ cần tác ý
ngược lại (tác ý vô thường, khổ, vô ngã…) là xong. Điều này hết sức logic, không
có gì phải băn khoăn cả, và cũng không có lý luận nào phản bác được, và chính đức
Phật Vipassi cũng đã tu tập như vậy mà đoạn tận lậu hoặc: “Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau một thời gian sống quán sự
sanh diệt trong năm uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc diệt. Ðây
là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi,
đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành diệt! Ðây là
thức, đây là thức tập khởi, đây là thức diệt”.
Và đối với
Ngài, sau khi sống quán pháp sanh diệt trong năm thủ uẩn, chẳng bao lâu các lậu
hoặc được tiêu trừ và Ngài được giải thoát.”[32]
Trong trường hợp của đức Phật
Vipassi, lúc đầu ngài quán sanh diệt của mười hai nhân duyên để phát sanh minh
kiến, sau đó ngài mới quán chiếu năm uẩn để đoạn tận lậu hoặc. Tuy nhiên, năm
thủ uẩn cũng là một Phần của Mười hai nhân duyên, nên nếu không biết về Mười
hai nhân duyên, chúng ta chỉ cần quán chiếu năm uẩn là đủ sau khi đã giữ giới
thanh tịnh: “Thưa Hiền giả Sàriputta, những
pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
Này Hiền giả
Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ,
bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không,
vô ngã.
Thế nào là
năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Này Hiền giả Kotthika, vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là
vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy
hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả,
sự kiện này xảy ra: Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường...
vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
Với Tỷ-kheo
đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác
ý? Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác
ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền
giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có
thể chứng được quả Nhất lai.
Nhưng Tỷ-kheo
Nhất lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
Tỷ-kheo Nhất
lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường...
vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhất lai, do như lý
tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
Nhưng Tỷ-kheo
Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
Tỷ-kheo Bất
lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường...
vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác
ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
Vị A-la-hán,
này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
Vị A-la-hán,
này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ,
bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không,
vô ngã.
Với vị
A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa
trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến
hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.”[33]
Ở phần trên chúng ta đã tìm hiểu kỹ về
năm uẩn và thấy rõ rằng chúng là vô thường, khổ, không đáng được xem là ta, của
ta, hay tự ngã của ta. Vào thời đức Phật còn tại thế, có những vị Tỷ kheo với
trí tuệ sắc bén khi được nghe giảng về năm uẩn như vậy thôi đã có thể vào Dòng
thánh thậm chí có những vị đoạn tận lậu hoặc ngay lập tức. Đối với chúng ta,
khi hiểu rõ về năm uẩn như vậy là đã có một tiến bộ lớn, tuy nhiên sự thấy biết
đó chưa thật sâu sắc hoặc chưa tận cùng và chưa liên tục do thói quen nhận thức
có ngã tướng, thường hằng tướng… được hình thành từ vô lượng kiếp vẫn còn tiềm
ân ở đó. Có nhiều người nghĩ rằng: Tôi thấy năm uẩn vô thường, khổ, vô ngã rõ
ràng rồi sao tôi chưa đoạn tận lâu hoặc? Để kiểm tra cái thấy của mình có tận
cùng và liên tục chưa, mỗi lúc gặp những cảnh bắt mắt hay điều trái ý, chúng ta
hãy nhìn xem tâm mình có khởi lên tham đắm hay sân hận không? Nếu có, thì rõ
ràng khi đó ta vẫn đang nhìn sự vật với ngã tướng, những ý niệm cảm nhận sự vật
theo bản năng vẫn còn xuất hiện thỉnh thoảng trong tâm, điều này khiến cho phiền
não sanh khởi, lậu hoặc rỉ chảy. Do đó đòi hỏi hành giả phải tiếp tục quán chiếu
năm uẩn liên tục trong một thời gian nữa mới có thể đoạn tận lậu hoặc, như ngài
Khemaka giải thích: “Dầu cho đối với vị
Thánh đệ tử, này chư Hiền, năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, nhưng vị ấy
còn nghĩ: "Ðối với năm thủ uẩn, vẫn còn dư tàn tế nhị". Dư tàn kiêu mạn
“Tôi là", dư tàn dục “tôi là”, dư tàn tùy miên “Tôi là” chưa được vị ấy đoạn
trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn:
"Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... Ðây
là tưởng... Ðây là các hành... Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức
đoạn diệt"
Vì rằng vị ấy
sống, quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này, các dư tàn ngã mạn "Tôi
là", các dư tàn ngã dục "Tôi là", các dư tàn ngã tùy miên
"Tôi là", mà vị ấy chưa được đoạn trừ, nay đi đến đoạn tận.
Này chư Hiền,
ví như một tấm vải nhớp nhúa dính bụi, những người chủ giao nó cho một người thợ
giặt. Người thợ giặt sau khi nhồi nó, đập nó trong nước muối, hay trong nước tô
đã, trong nước phân bò rồi giặt sạch nó trong nước trong. Dầu cho tấm vải ấy
nay được sạch sẽ, trong trắng, nhưng nó vẫn còn dư tàn mùi muối hay mùi tô đã,
hay mùi phân bò. Người thợ giặt giao lại tấm vải cho những người chủ. Những người
chủ đem bỏ nó vào trong một cái hòm có ướp hương thơm. Như vậy cái dư tàn mùi
muối hay mùi tô đã bay mùi phân bò chưa được đoạn tận, nay được đoạn trừ.
Cũng vậy,
này chư Hiền, dầu cho vị Thánh đệ tử đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử, nhưng với
vị ấy, cái dư tàn trong năm thủ uẩn, dư tàn ngã mạn "Tôi là", dư tàn
ngã dục "Tôi là", dư tàn ngã tùy miên: "Tôi là" chưa được
đoạn trừ. Vị ấy sau một thời gian, sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn:
"Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ... đây
là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức
đoạn diệt". Vì rằng vị ấy sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn này
nên các dư tàn trong năm thủ uẩn này, ngã mạn "Tôi là", ngã dục
"tôi là", ngã tùy miên "Tôi là" chưa được đoạn tận nay đi đến
đoạn trừ.”[34]
Như vậy phương pháp thiền quán của Phật
dạy rất đơn giản và ai cũng có thể thực hành để thành tựu thánh quả ngay trong
hiện tại. Căn cứ vào những lời dạy trên chúng ta có thể chia phương pháp quán
chiếu Năm Uẩn thành hai cách: quán chiếu sâu về năm uẩn, sự tập khởi, sự đoạn
diệt, và con đường đưa đến sự đoạn diệt năm uẩn, cách thứ hai là dựa vào sự hiểu
biết sâu sắc về năm uẩn chúng ta chỉ cần tác ý năm uẩn là vô thường, khổ, bệnh
hoạn, ung nhọt, mũi tên, ốm đau… như được tả ở đoạn trích.
Theo cách quán thứ nhất, quán chiếu cả
năm uẩn cùng với sự tập khởi, sự diệt mất của nó, và con đường Thánh đạo tám
ngành đưa đến đoạn diệt Năm Uẩn để thấy được thật tánh vô ngã của Năm Uẩn như đức
Phật từng dạy. Hành giả phải nhớ lại nội dung của Năm Uẩn đã được giới thiệu ở
phần trên và bắt đầu tư duy từng phần một như sau: Đây là sắc, do sự tập khởi của
món ăn nên có sự tập khởi của sắc, và do sự đoạn diệt của thức ăn đưa đến sự đoạn
diệt của sắc và con đường Thánh đạo tám ngành này là con đường duy nhất đưa đến
đoạn diệt sắc. Đây là thọ, tưởng, và hành, do sự tập khởi của xúc nên có thọ,
tưởng, hành, do xúc đoạn diệt nên thọ, tưởng, hành đoạn diệt và con đường đoạn
diệt thọ, tưởng, và hành là con đường Bát Thánh Đạo. Và đây là thức, do danh sắc
tập khởi nên thức tập khởi, do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt, và con đường
đưa đến đoạn diệt thức cũng là Bát thánh đạo. Khi tư duy quán sát như vậy hành
giả nên liên hệ với nội dung đã được giải thích ở phần trên cũng như những kinh
nghiệm bản thân để cho sự quán chiếu của mình thêm phong phú và sâu sắc kết hợp
với việc tìm cách trả lời câu hỏi sau: Tại
sao Bát thánh đạo là con đường duy nhất đưa đến đoạn diệt năm uẩn? Thực tập
quán chiếu như vậy giúp hành giả bào mòn dần sự chấp thủ năm uẩn do cái thấy vô
ngã càng ngày càng rõ ràng hơn.
Tóm lại, học hỏi và quán chiếu năm uẩn
là để chúng ta thấy rõ tính chất sanh diệt của chúng, từ đó đạt được cái thấy
vô ngã, không còn bị chúng trói buộc bởi bất cứ vật gì trên đời, dẫn đến sự
nhàm chán, ly tham, đoạn tận tất cả pháp hữu vi, và không còn bị lo âu phiền muộn:
“Và này chư Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ
tử đi đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục các pháp bậc Thánh, tu tập pháp
các bậc Thánh, đi đến yết kiến các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn
nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, xem sắc pháp: "Cái này không phải của
tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem cảm
thọ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không
phải tự ngã của tôi", xem tưởng: "Cái này không phải của tôi, cái này
không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", xem các hành:
"Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải
tự ngã của tôi", xem cái gì được thấy, được nghe, được cảm xúc, được ý thức,
được đạt tới, được tìm cầu, được ý suy tư: "Cái này không phải của tôi,
cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", và bất cứ
kiến xứ nào đều nói rằng: "Ðây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết
tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như
thế này cho đến mãi mãi", xem như vậy là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải
tự ngã của tôi". Vị này do quán sát như vậy, đối với sự vật chẳng thật
có nên không có lo âu, phiền muộn.”[35]
Quán chiếu hay tác ý về năm uẩn để thấy
bản chất thật của chúng là phương pháp thực hành của ba đời chư Phật để chứng đắc
cứu cánh Niết bàn, vượt qua sợ hãi, sầu, bi, khổ, ưu, não… được khắc ghi rất cẩn
thận ở các chùa theo truyền thống Bắc tông thành bài Bát Nhã Tâm Kinh, nhằm nhắc
nhở cho tất cả chúng ta ngày ngày phải thường xuyên quán chiếu năm uẩn để vượt
thoát sanh tử luân hồi: “hành thâm Bát
Nhã Ba La mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”.
4. Kết Luận
Khi nghiên cứu về đạo Phật,
nhiều người thường tìm đến giáo lý Tứ Diệu Đế như là một nền tảng để từ đó họ
đi sâu vào đạo Phật. Điều này hết sức dĩ nhiên vì trong kinh Nguyên thủy chính
đức Phật thường xuyên nhắc đến giáo lý này và các nhà sư sau này cũng triển
khai giáo lý này như là tinh túy của Phật giáo, tuy nhiên ít ai biết rằng muốn
hiểu được giáo lý Tứ diệu đế trước hết phải hiểu rõ giáo lý Ngũ uẩn. Trong Tứ
diệu đế, Khổ đế chính là Năm thủ uẩn, sự tập khởi của Năm thủ uẩn chính là sự Tập
khởi của khổ, và sự đoạn diệt Năm thủ uẩn chính là sự Diệt khổ và con đường đưa
đến đoạn diệt Năm thủ uẩn chính là con đường đưa đến diệt khổ. Vì vậy, không chỉ
khi thấy được Tứ Diệu Đế mới chứng được quả Dự lưu mà hiểu rõ Ngũ uẩn hành giả
cũng đã vào được dòng Thánh: “Và khi nào
vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị Ða văn Thánh
đệ tử ấy, này các Tỷ-kheo, được gọi là vị Dự lưu, không còn bị thối thất, đã được
quyết định, hướng đến Chánh Ðẳng Giác.”[36]
Vì là giáo lý đưa một kẻ
phàm phu bước vào dòng Thánh nên nó không bao giờ là dễ hiểu cả đối với một người
tâm đầy tham dục, cho nên có nhiều nhận định cho rằng đạo Phật bi quan yếm thế,
tuy nhiên bi quan hay lạc quan đều chỉ là những nhận định dựa trên những quan
điểm nhị biên, bị trói buộc bởi tham ái, trong khi đó con đường giải thoát được
đức Phật trình bày là phải thoát ra khỏi nhị biên, nhìn thẳng vào sự thật,
không có né tránh để khỏi phải sống sợ hãi và lo âu. Tất cả những gì đức Phật
nói là sự thật hiển nhiên trong cuộc sống, không phải thuộc thế giới siêu hình,
hay những triết lý xa vời. Ngược lại, nó nằm ngay trước mặt, nhưng do vô mình
tham ái, nên chúng ta ít để ý, do đó chúng ta không thể thấy được sự thật. Là một
người đã thấy được sự thật và vượt ra khỏi khổ đau, đức Phật vì lòng thương tưởng
cho đời đã chỉ lại cho chúng ta cái sự thật đó, nhưng nếu chúng ta cũng không
thấy nữa thì thật là quá ngu muội: “Ở
trong đời, này các Tỷ-kheo, có thế pháp. Thế pháp ấy Như Lai hoàn toàn chứng ngộ,
hoàn toàn chứng tri. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng tri, Như Lai
tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ.
Này các Tỷ-kheo, thế pháp ở trong đời là gì, thế pháp ấy được
Như Lai chứng ngộ, chứng tri; sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết
giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ? Sắc, này các Tỷ-kheo,
là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ, chứng tri, sau khi
chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình bày, xác chứng, khai
thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, trình bày,
xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không biết, không thấy,
thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si, phàm phu, mù lòa,
không có mắt, không có biết, không có thấy. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức,
này các Tỷ-kheo, là thế pháp ở trong đời. Thế pháp ấy được Như Lai chứng ngộ,
chứng tri. Sau khi chứng ngộ, chứng tri, Ngài tuyên bố, thuyết giảng, trình
bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ. Và ai, khi Như Lai tuyên bố, thuyết
giảng, trình bày, xác chứng, khai thị, phân tích, hiển lộ như vậy, (vẫn) không
biết, không thấy, thì đối với người ấy, Ta xem là vô tích sự, là kẻ ngu si,
phàm phu, mù lòa, không có mắt, không có biết, không có thấy.”[37]
Không chỉ nói lên sự thật,
đức Phật luôn luôn khuyên dạy đệ tử phải tư duy để thấy sự thật đó bằng trí tuệ
của chính mình, không nên chấp nhận một
quan điểm nào đó chỉ nhờ vào đức Tin. Đây chính là tinh thần tự do tư tưởng
tuyệt đối, chỉ có trong đạo Phật, một trí tuệ của con người, do con người và vì
con người. Khi chỉ dạy về sự chấm dứt tận cùng của khổ đau, vượt ra khỏi sự hiện
hữu của Năm uẩn, đức Phật đã giảng giải rất súc tích trên tinh thần đó: “Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp
kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều
được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi vô sắc". Do suy tư
như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp.
Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau:
"Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau:
"Không thể có sự hữu diệt toàn diện", ta không có thấy như vậy. Những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể
có một sự hữu diệt toàn diện", ta không có biết như vậy. Và nếu ta không
biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: "Ðây là sự thật,
ngoài ra đều là mê lầm", thời như vậy không xứng đáng với ta. Những
Sa-môn, Bà-la-môn nào, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
thể có một sự hữu diệt toàn diện", nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn
ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh chỗ các chư
Thiên vô sắc do tưởng sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết
như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một sự hữu diệt toàn diện",
nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy
ra: Ta chắc chắn sẽ nhập Niết-bàn ngay trong hiện tại. Những Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không thể có một
sự hữu diệt toàn diện", thời quan điểm này của các vị ấy gần với tham ái,
gần với kiết sử, gần với ái lạc, gần với chấp trước, gần với chấp thủ. Còn những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể
có sự hữu diệt toàn diện", thời quan điểm này của những vị ấy là gần với
ly tham, gần với không kiết phược, gần với không ái lạc, gần với không chấp trước,
gần với không chấp thủ". Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự
vô tham, sự diệt tận đối với các hữu.”[38]
Như vậy, sự thật trong cuộc
sống mà đức Thế Tôn muốn chỉ cho chúng ta chính là năm uẩn, sự sanh diệt của
năm uẩn, và con đường đi đến đoạn diệt năm uẩn. Do không thấy, không hiểu rõ
năm uẩn này cho nên chúng ta chấp thủ và bám víu vào chúng, chúng ta không thể
thoát khỏi khổ đau, bị trôi lăn trong luôn hồi sanh tử: “Ví như, này các Tỷ-kheo, có con chó bị dây thừng trói chặt vào một cây
cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay
cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu... không tu tập pháp
các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng
như là tự ngã... quán các hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự
ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy
chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy
chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy
tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng
theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải
thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành,
không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ,
ưu, não. Ta tuyên bố rằng: "Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau".”[39]
Có thể có những người ham
thích triết lý cao siêu, xa rời thực tế, không liên hệ đến pháp giải thoát, khi
nói đến ngũ uẩn liền cho rằng nó không có gì quan trọng cả, nhưng khi được hỏi
thì không thể trả lời được một cách đầy đủ. Họ giải thích chánh Pháp một cách
sai lạc, đi sâu vào những vấn đề vượt ngoài khả năng suy tưởng của con người
như Niết bàn hay cảnh giới của chư Phật, bịa ra những huyền thoại để củng cố
quan điểm của mình khiến cho những thế hệ sau càng đi từ sai lầm này đến sai lầm
khác: “Này Gia chủ, một số (tà) kiến này
khởi lên ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới
là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng
và thân thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại
sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như Lai
không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Lại có thêm 62 tà kiến
này được nói lên trong kinh Phạm Võng. Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên
các tà kiến này có mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?
Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?
Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy các bậc
Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh,
không được thấy các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân,
không tu tập pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như
là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc... quán thọ như là tự
ngã... tưởng... các hành... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức,
hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân
kiến có mặt.”[40]
Tóm lại, vì tính chất
duyên sanh, hữu vi, vô thường, của thân năm uẩn nên chúng mang lại khổ đau cho
bất cứ ai tham đắm và bị trói buộc bởi chúng: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả
lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Đây gọi
là Khổ, này các Tỷ-kheo.”[41] Khi
mang thân năm uẩn này thì phải chịu sự tác động của môi trường bên ngoài, bị
tác động bởi thời tiết, âm thanh, hình ảnh… cho nên cái khổ là không thể tránh
khỏi: “Này Hiền giả, tái sanh là khổ,
không tái sanh là lạc. Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Lạnh,
nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với trượng,
xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau
cũng não hại. Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ
này. Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Không lạnh, không
nóng, không đói, không khát, không đại tiện, không tiểu tiện, không có xúc chạm
với lửa, không có xúc chạm với trượng, không có xúc chạm với kiếm. Cho đến bà
con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có não hại.”[42]
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~***~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
[1] Hữu nghĩa là
có, vi nghĩa là làm, hành động. Hữu vi có nghĩa là được hình thành do hành động
tạo tác.
[2] Tương ưng bộ
kinh III, chương tương ưng Ràdha, phẩm thứ nhất, V. sa môn
[3] Kinh trung bộ, Đại kinh ví dụ dấu chân voi, số 28
[4] Kinh tương ưng bộ III, Thiên Uẩn, Năm mươi kinh giửa, Thủ chuyển
[5] Kinh Tương ưng bộ III, thiển uẩn, năm mươi kinh giửa, Đầu ngón
tay
[7] Kinh Tương ưng bộ
III, Thiên uẩn, phẩm Nakulapità, Chấp thủ và ưu não VIII
[15] Kinh Trung bộ III,
Kinh Sáu sáu, số 148
[17] Kinh Tương ưng bộ IV,
Tương ưng thọ, phẩm Sống một mình, Kinh 11
[26] Kinh Tương ưng bộ III, Tương ưng uẩn, phẩm Nakulapità, I
[41] Kinh Tương ưng bộ
III, Tương ưng uẩn, phẩm Biên, khổ, trang 282-283
[42] Kinh Tăng chi bộ IV,
chương mười pháp, phẩm Song đôi, Lạc và khổ, trang 400-402
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét