Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

thất giác chi

THẤT GIÁC CHI
I. GIỚI THIỆU
Còn là một phàm phu, với tâm đầy tham ái, do cái thấy hữu ngã, nên thường tác ý đến những tư lợi bệnh hoạn, liên quan đến năm uẩn: cái lợi của vật chất, cảm thọ, suy tưởng, tư duy, và nhận thức. Vì tác ý như vậy nên thói quen nhận thức có ngã tướng càng ngày càng ăn sâu vào trong tâm - thức do danh sắc sanh, chúng tạo nên một mô hình nhận thức riêng biệt trong mỗi cá nhân, chính những nhận thức đó trói buộc con người. Nếu chúng ta không nhận thấy được tính vô ngã của nó, chúng ta sẽ bị nô lệ vào nó, bị nó sai khiến tạo nghiệp thế này hay thế khác. Để dễ hiểu, xin lấy ví dụ trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay giới trẻ thường hay bắt chước phong cách nước ngoài qua các bộ phim như Hàn Quốc, họ nhuộm tóc, ăn mặc hở hang nhưng không biết như vậy có đẹp không hay chỉ khiến người khác chê cười, trẻ em thấy bạn bè chơi game mình cũng vào chơi, lúc đầu không biết nhưng chơi nhiều lần trở nên quen và trở thành ghiền… một em bé chưa bao giờ thấy ma nhưng cứ nghe người này người khác kể về ma với những cảnh tượng rùng rợn, những hình ảnh đó in sâu vào trong thức em khiến em cảm thấy sợ khi nghe đến ma. Trong kinh Khởi Thế Nhân Bổn, Trường bộ kinh, kinh số 26, khi trái đất bắt đầu hình thành có hương vị rất ngon, có những loài hữu tình sanh vào đây lúc đầu một người lấy ngón tay nếm vị của đất, người khác thấy vậy cũng bắt chước nếm theo, dần dần họ bẻ từng cục đất mà ăn. Lúc đầu, họ chưa biết quan hệ tình dục, khi người nam nhìn chăm chú người nữ và ngược lại khiến dục tâm sanh khởi và họ bắt đầu giao cấu. Tất cả những vấn đề này xảy ra đều do nhận thức có ngã tướng của sáu giác quan rằng đây là tiền, đây là xe, đây là vàng, con trai, con gái… mà không biết rằng tất cả chúng đều là đất, nước, không khí, và hơi ấm kết hợp mà có. Từ nhận thức có ngã tướng dẫn đến tác ý có ngã tướng, từ tác ý có ngã tướng dẫn đến nhận thức có ngã tướng, chúng làm tăng trưởng tham, sân, si, chấp thủ, dẫn đến sanh tử luân hồi.
Như vậy, tác ý có ngã tướng, tịnh tướng, đối ngại tướng, sẽ làm tăng trưởng tham, sân, si… thì ngược lại, tác ý vô ngã tướng sẽ diệt được tham, sân, si… Do đó, việc tu tập của chúng ta là tác ý vô ngã tướng, bất tịnh tướng, vô thường tướng, để diệt sanh tử luân hồi. Tác ý là phương pháp tu tập quan trọng nhất của hành giả Phật giáo, nếu không biết tác ý đúng pháp thì không thể tu tập, vì như lý tác ý luôn luôn hiện hữu trong tất cả mọi phương pháp tu tập theo Đạo giải thoát, nó được gắn liền với Bảy Giác Chi, cái mà ba đời chư Phật điều tu tập và thành tựu nó. Vì vậy, ngày nay chúng ta nếu muốn giải thoát Giác Ngộ cũng phải học hỏi và tu tập Bảy giác chi này:
“Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác”
II. NỘI DUNG
Bảy Giác Chi hay thường được gọi là Thất Bồ Đề Phần, là bảy yếu tố đưa đến giác ngộ, “chúng đưa đến giác ngộ, do vậy, chúng được gọi là các giác chi, bao gồm: Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi, và Xã giác chi: “Niệm giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát... Xả giác chi, này các Tỷ-kheo, không phải là chướng ngại, triền cái, không làm uế nhiễm tâm, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát.”
1. Định Nghĩa
a. Niệm Giác Chi
Niệm có nghĩa là ghi nhớ những gì đã qua, ức niệm, chánh niệm, giữ tâm có mặt trong hiện tại… “Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn.”
Niệm giác chi thường gắn liền với Bốn niệm xứ vì niệm giác chi thường sanh khởi khi hành giả thực hành bốn Niệm xứ: “Này các Tỷ-kheo, trong khi tùy quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời, trong khi ấy, niệm không hôn mê của vị ấy được an trú. Trong khi niệm không hôn mê của vị ấy cũng được an trú, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy niệm giác chi được bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo, trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi. Trong khi ấy niệm giác chi được Tỷ-kheo tu tập đi đến viên mãn.”
Như vậy, Niệm giác chi có nghĩa là tâm luôn an trú trên đề mục tu tập, rõ biết sáng suốt đề mục mình đang thực hành, không bị năm triền cái chi phối, không bị quên mất, khi đi đứng lúc nằm ngồi đều rõ biết việc mình đang làm là Niệm giác chi có mặt: “Cái gì là niệm đối với nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là niệm giác chi. Cái gì là niệm đối với ngoại pháp, cái ấy là niệm giác chi.”
b. Trạch Pháp Giác Chi
Trạch có nghĩa là chọn lựa, phân biệt. Như vậy, Trạch Pháp tức là phân biệt chọn lựa giữa pháp thiện và pháp ác, cao hay thấp, liệt hay thắng để tu tập. Trong khi phân biệt, chọn lựa, đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, quán sát những pháp đó, vì vậy đây cũng là Trạch Pháp. Nếu chúng ta chọn đúng thì điều đó sẽ giúp chúng ta đi đến giải thoát cho nên gọi là Trạch Pháp giác chi: “Này các Tỷ-kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên, với Tỷ-kheo. Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi.”
Tóm lại, trạch pháp giác chi là hoạt động của tư duy nhằm đưa đến một cái thấy và quyết định các pháp, giúp hành giả đi đúng chánh pháp: “Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát với trí tuệ đối với các nội pháp, này các Tỷ-kheo, cái ấy là trạch pháp giác chi. Cái gì là quyết trạch, tư sát, quán sát đối với các ngoại pháp, cái ấy là trạch pháp giác chi.”
c. Tinh Tấn Giác Chi
Tính tấn có ý nghĩa đơn giản là một sự nỗ lực, cố gắng, nhiệt tình, cần mẫn… và khi những sự cố gắng đó đúng hướng, đưa đến giác ngộ thì được gọi là Tinh tấn giác chi. Và khi nói đến tinh tấn giác chi, thường là tinh tấn giữ gìn chánh niệm và tư duy quán sát các pháp hay còn gọi là tinh tấn tu tập niệm giác chi và trạch pháp giác chi: “Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy sự tinh tấn không thụ động bắt đầu khởi lên với Tỷ-kheo ấy. Trong khi ấy tinh tấn giác chi được bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.”
d. Hỷ Giác Chi
Hỷ là trạng thái vui vẻ, hân hoan, hưng phấn, phấn chấn, phấn khởi… của tâm, ví như người vừa trúng số, học sinh thi đổ, hay vận động viên vừa thắng giải… Hỷ giác chi là tâm trạng hân hoan không liên hệ đến sắc, thanh, hương, vị, hay xúc, mà chính do bản thân hành giả nỗ lực tinh tấn tu tập hay tác ý đến các thiện pháp thành tựu mà nên: “Này các Tỷ-kheo, trong khi hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên nơi Tỷ-kheo tinh tấn tinh cần, trong khi ấy hỷ giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy hỷ giác chi được vị Tỷ-kheo tu tập.”
Hỷ giác chi cũng là trạng thái của thiền định, nên hỷ này có hai loại, hỷ có tầm tứ và hỷ không có tầm tứ, là trạng thái của sơ thiền và nhị thiền: “Cái gì là hỷ có tầm, có tứ, này các Tỷ-kheo, cái ấy là hỷ giác chi. Cái gì là hỷ không tầm, không tứ, cái ấy là hỷ giác chi. Gọi là hỷ giác chi là có ý nghĩa này.”
e. Khinh an Giác Chi
Khinh có nghĩa là nhẹ nhàng, an là an ổn. Khinh an là trạng thái thân tâm nhẹ nhàng, thanh thản, không có trì trệ, ủ rủ, u sầu, nặng nề như khi bị mất mát hay thất vọng về điều gì đó. Cho nên khinh an thường đi sau hỷ, tức là khi hành giả tu tập được hân hoàn thì ngay khi đó thân tâm cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái: “Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo."
f. Định Giác chi
Định là trạng là trạng thái của tâm chuyên chú vào một đối tượng, nên còn được gọi là nhất tâm. Định có nhiều cấp độ khác nhau, từ định trong chốc lát gọi là sát na định đến định cao nhất là Diệt thọ tưởng định. Trong bảy giác chi, định giác chi đi theo sau khinh an, nhờ vào khinh an mà tâm được định: “Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.”
g. Xả giác chi
Xả có có nghĩa là buông bỏ, từ bỏ, rời khỏi, tâm không dính mắc, không thiên chấp, không bị trói buộc… Xả giác chi có nghĩa là sự buông bỏ tất cả các pháp hữu vi, buông bỏ năm uẩn… để đi đến giác ngộ giải thoát cứu cánh. Xả giác chi thường được thể hiện hiệu quả nhất khi tâm được định tĩnh: “Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.”
2. Tu Tập Bảy Giác Chi
Tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối tiếc, và nghi ngờ do dự là những cấu uế của tâm, che lấp tâm tánh, làm yếu ớt trí tuệ. Trong khi đó Bảy giác chi là những pháp làm cho tâm trong sáng, lắng dịu, nhẹ nhàng, dễ tu tập. Cho nên khi năm triền cái hiện hữu thì Bảy giác chi biến mất. Rõ ràng, khi tâm mê man buồn ngủ hay suy nghĩ lăng xăng thì Niệm giác chi không thể có mặt được, hai vấn đề này như hai mặt của bàn tay, mặt đen ở trên thì mặt trắng ở dưới: “Dục tham (kàmachanda)… sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm cấu uế của tâm. Chính do những cấu uế ấy, tâm không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, và không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc”.
Vì Bảy giác chi là những trạng thái tích cực của tâm, được hình thành do qua một quá trình tu tập, khiến cho tâm trở nên nhu nhuyến, kham nhậm, chói sáng, chơn chánh định tĩnh, đưa đến giải thoát giác ngộ. Nên tu tập Bảy giác chi là không thể nói “không” đối với một hành giả Phật giáo. Vì là những trạng thái của tâm nên tu tập Bảy giác chi phải bắt đầu từ tâm, và như lý tác ý là một hoạt động căn bản của tâm nuôi dưỡng Bảy giác chi: “Phàm có những pháp nào, này các Tỷ-kheo, dự phần về thiện và bất thiện, nhưng thuộc về phần thiện, tất cả những pháp ấy lấy như lý tác ý làm căn bản, lấy như lý tác ý làm chỗ quy tụ; như lý tác ý được gọi là tối thượng đối với những pháp ấy. Với Tỷ-kheo thành tựu như lý tác ý này, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng bảy giác chi sẽ được tu tập, sẽ được làm cho sung mãn.”
Khi nói đến “như lý tác ý”, điều đó có nghĩa là tác ý đúng chánh pháp, đúng đối tượng. Nếu có người lại hỏi phải tác ý như thế nào mới đúng chánh pháp? Tác ý để bỏ tham, bỏ sân, bỏ si như tác ý về vô thường, khổ, vô ngã… là tác ý đúng chánh pháp. Vậy như lý tác ý là tác ý những đối tượng nào để diệt trừ tham, sân, si và tăng trưởng Bảy giác chi: “Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng...
 Vị ấy như lý tác ý: "Ðây là khổ", như lý tác ý: "Ðây là khổ tập", như lý tác ý: "Ðây là khổ diệt", như lý tác ý: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.”
Như vậy, định nghĩa về “như lý tác ý” đã được đức Phật định nghĩa rất rõ ràng, không còn lý do gì để chúng ta phải nhầm lẫn nữa. Tiếp đến, chúng ta đi vào cách tu tập mỗi giác chi. Trước hết đó là Niệm giác chi. Vì Niệm giác chi có liện hệ mật thiết với Bốn niệm xứ nên khi tu tập Niệm giác chi chúng ta phải tu tập Bốn niệm xứ. Và trong khi tu tập Bốn niệm xứ, chúng ta liên tục tác ý để tâm liên tục trú vững chắc trên đề mục Bốn niệm xứ tức là chúng ta cũng đang tu tập Niệm giác chi. Cụ thể hơn, ví dụ khi chúng ta đang tu tập niệm hơi thở, thỉnh thoản tâm chúng ta ra khỏi đề mục hay niệm bị yếu thì chúng ta phải tác ý bằng cách nhắc nhở mình: hãy tập trung vào, hãy tĩnh giác, cố giữ tâm vào đề mục,… Bằng cách tác ý như vậy thì tâm của chúng ta dần dần bám chắc vào đề mục: “Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với niệm giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với niệm giác chi đã sanh khởi được tu tập, làm cho viên mãn? Có các pháp, này các Tỷ-kheo, làm trú xứ cho niệm giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho niệm giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với niệm giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.”
Trong khi tu tập Niệm giác chi, với tâm tỉnh giác, chúng ta sẽ thấy rõ đề mục mình đang tu tập trong từng khía cạnh của nó, tốt hay xấu, dễ hay khó, có lợi hay không... đồng thời tư duy thẩm sát pháp đó với trí tuệ của mình để cho cái thấy của chúng ta chính xác rõ ràng hơn: “Vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, trong khi trú với chánh niệm như vậy, Tỷ-kheo với trí tuệ suy tư, tư duy, thẩm sát pháp ấy, trong khi ấy trạch pháp giác chi được bắt đầu khởi lên, với Tỷ-kheo. Trong khi ấy, Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi.”
Trong lúc quán sát pháp đó, thỉnh thoảng chúng ta “như lý tác ý”. Với sự tác ý đúng pháp liên tục, trí tuệ của chúng ta càng lúc càng sắc bén hơn, điều này giúp hành giả thấy rõ pháp mình đang thực hành là thiện hay bất thiện, đen hay trắng… “Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với trạch pháp giác chi chưa sanh làm cho sanh khởi; hay đối với trạch pháp giác chi đã sanh được tu tập và làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các thiện pháp và bất thiện pháp, có các pháp đáng chỉ trích và không đáng chỉ trích, có các pháp liệt và thắng, có các pháp đen và trắng (kanhàsukkasa-ppatibhàgà). Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho trạch pháp giác chi chưa sanh khởi được sanh khởi; hay đối với trạch pháp giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.”
Với nỗ lực tác ý để duy trì chánh niệm trên đề mục và quán sát pháp đó tức là chúng ta đang tu tập Tinh tấn giác chi. Vì rằng, khi tác ý nhắc nhở chính mình cố gắng duy trì chánh niệm và tư duy thẩm sát đề mục chính là đang làm cho chúng ta càng lúc càng tinh tấn hơn. Ngoài ra, để cho tính tấn càng lúc càng mạnh chúng ta cũng nên thường nhắc mình phải cố gắng, tác ý đến sự vô thường ngắn ngủi của mạng sống, đến khả năng cái chết đến bất ngờ… để nỗ lực của chúng ta lớn mạnh và đi đến sung mãn như trong đoạn kinh đức Phật dạy niệm chết: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, suy tư như sau: “Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: con rắn có thể cắn ta; con bò cạp có thể cắn ta; hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung; như vậy sẽ chướng ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn. hay mật có thể khuấy động ta, đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động ta. Người có thể công kích ta, hay phi nhân có thể công kích ta, do vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: “Nếu ta còn có những pháp ác, bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: “Ta có những pháp ác, bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác, bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển chánh niệm và tỉnh giác.”
Có lẽ, nếu ai đã từng nỗ lực tu tập thiền định đều có những kinh nghiệm về tu tập hỷ giác chi, vì nó thường được sanh khởi khi chúng ta có cố gắng. Không giống như cố gắng thông thường để làm một việc gì đó, và nếu thành công thì niềm vui mới đến còn không thì rất chán nản, trong thiền định chỉ cần chúng ta nỗ lực thôi cũng đã làm cho bản thân vui rồi và tất nhiền nếu đạt được một điều gì đó thì chắc chắn là vui hơn nữa. Bên cạnh do nỗ lực nên hỷ giác chi sanh khởi, chúng ta còn có thể làm sanh khởi hỷ giác chi bằng cách tự mình tác ý đến những điều khiến cho hỷ phát sanh như: tác ý đến mức độ giải thoát mà tự mình đã đạt được, tác ý đến những pháp thiện mà mình đã thành tựu, tác ý đến công đức của Tam bảo, …: “Này các Tỷ-kheo, có những pháp làm trú xứ cho hỷ giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho hỷ giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với hỷ giác chi đã sanh khởi khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.”
Tiếp theo sau Hỷ giác chi, đó là Khinh an giác chi, một trạng thái nhẹ nhàng của thân và tâm. Khinh an giác chi thường phát sinh theo sau Hỷ giác chi: “Thân của vị ấy được tâm hoan hỷ trở thành khinh an, tâm cũng được khinh an. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với ý hoan hỷ được thân khinh an, được tâm cũng khinh an, trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo tu tập. Trong khi ấy, khinh an giác chi được Tỷ-kheo làm cho đi đến sung mãn.” Trong trường hợp này, Khinh an biểu hiện rất rõ và ai cũng cảm nhận được, và để hiểu thêm về trạng thái Khinh an này chúng tôi xin kể về một câu chuyện trong “Thanh Tịnh Đạo”: Có một người Phụ nữ đang mang thai, vào ngày rằm cùng với chồng và mẹ chồng đang đứng dưới chân núi, phía trên là một ngôi chùa đang thắp đèn sang rất đẹp khiến tâm mọi người rất hoan hỷ, và muôn lên đó xem, nhưng người phụ nữ mang thai không thể đi được, vì vậy cô phải đứng bên dưới và nhìn lên, trong khi nhìn như vậy tâm cô rất hoan hỷ với ao ước được lên đó để chiêm bái, tự nhiên thân cô nhẹ bổng và bay lên trên chùa đó, khi người chông và mẹ chồng lên thì thấy cô ở đó rồi, nhưng khi xuống thì cô không bay được nữa mà người chồng phải dìu cô xuống. Trong kinh Nikaya cũng có một mẩu chuyện tương tự về gia chủ Ugga, khi ông đang trên đường đi đến tinh xá Kỳ hoàn để thăm Thế tôn, đến bờ sông trong lúc chờ người chèo đò quay trở lại để đưa ông qua, ông đã nghĩ về công đức của Thế tôn, trong lúc đó tâm ông hết sức hoan hỷ và thân trở nên nhẹ bổng, ông bước xuống nước và đi qua sông, đến giữa dòng hỷ tâm lắng xuống thân ông cũng chìm dần xuống nước, ông liền nhiếp tâm hướng về công đức của Phật tâm sanh hoan hỷ, thân nỗi lên trở lại và ông tiếp tục đi qua bên kia sông.
Ngoài ra, Khinh an giác chi cũng được sanh khởi nhờ tự bản thân mình tu tập như lý tác ý, như trong đoạn kinh sau:“Này các Tỷ-kheo, có thân khinh an, tâm khinh an. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho sung mãn, thời đây là món ăn khiến cho khinh an giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với khinh an giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.”
Khi thân được kinh an, an lạc, lẽ dĩ nhiên trạng thái tâm trong lúc đó không bị tán loạn, đây chính là sự nhất tâm hay còn gọi là định giác chi: “Một vị có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo có thân khinh an, an lạc, tâm vị ấy được định tĩnh, trong khi ấy định giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.”
Sau khi Định giác chi đã phát sanh, chúng ta phải tiếp tục tu tập để định đi đến viên mãn bằng cách tác ý nhằm nhắc nhở tâm mình bám chắc vào đề mục như: Tập trung vào!, Chú tâm vào!... Vì như lý tác ý là cũng là thức ăn cho định giác chi, nên để định càng ngày càng sâu như lý tác ý là cần thiết: “Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với định giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với định giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có tịnh chỉ tướng, bất loạn tướng. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho định giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với định giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.”
Cuối cùng là Xả giác chi. Ở đây hành giả phải tự tác ý để buông xả, định lúc này chỉ có tác dụng giúp tâm không bị tán loạn để quán chiếu và tác ý có hiệu quả hơn mà không có tác dụng sanh ra xả giác chi. “Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly. Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo với tâm định tĩnh như vậy, khéo nhìn (sự vật) với ý niệm xả ly, trong khi ấy xả giác chi bắt đầu khởi lên nơi Tỷ-kheo.”Vì vậy, tác ý đúng pháp để buông xả là yếu tố thiết yếu ở giai đoạn này. Thông thường, những đối tượng thường được tác ý để buông xả là tác ý về vô thường, khổ vô ngã, bất tịnh… “Và này các Tỷ-kheo, món ăn nào đối với xả giác chi chưa sanh khiến cho sanh khởi; hay đối với xả giác chi đã sanh được tu tập, làm cho viên mãn? Này các Tỷ-kheo, có các pháp làm trú xứ cho xả giác chi. Ở đây, nếu như lý tác ý được làm cho viên mãn, thời đây là món ăn khiến cho xả giác chi chưa sanh được sanh khởi; hay đối với xả giác chi đã sanh khiến cho được tu tập, làm cho viên mãn.”
Tóm lại, Bảy giác chi đều là trạng thái của tâm, do tâm, từ nơi tâm mà phát sanh nên thức ăn của chúng đều là “như lý tác ý”. “Ví như, này các Tỷ-kheo, cái thân này y cứ món ăn, duyên món ăn được an trú; không có món ăn thì không an trú. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bảy giác chi này y cứ món ăn, duyên món ăn mà được an trú; không có món ăn thì không an trú.”
Bên cạnh tu tập cả bảy giác chi theo một trình tự từ trên xuống, chúng ta cũng có thể tu tập từng giác chi một, vào bất cứ lúc nào ta cảm thấy cần thiết theo đoạn kinh Phật dạy sau: “Trong khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Khi tâm thụ động, này các Tỷ-kheo, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ ướt, phân bò ướt, củi ướt, để ngọn lửa ấy giữa mưa, gió và rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa nhỏ ấy không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập khinh an giác chi, không phải thời là tu tập định giác chi, không phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, khi tâm thụ động, thật khó làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
* Phải Thời
Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn đốt lên một ngọn lửa nhỏ, người ấy ném vào đấy cỏ khô, phân bò khô, củi khô, dùng miệng thổi, không có rắc bụi lên trên; người ấy có thể nhen đỏ ngọn lửa ấy không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm thụ động, trong khi ấy, phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, khi tâm thụ động, thật dễ làm tâm phát khởi nhờ những pháp này.
* Không Phải Thời
Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, tâm dao động, thật khó được tịnh chỉ do những pháp ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ khô, phân bò khô và củi khô, lấy miệng thổi, và không rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt đống lửa lớn ấy không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, không phải thời là tu tập trạch pháp giác chi, không phải thời là tu tập tinh tấn giác chi, không phải thời là tu tập hỷ giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật không dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp ấy.
Và này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động thật dễ được tịnh chỉ nhờ những pháp này. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người muốn dập tắt một đống lửa lớn. Ở đây, người ấy ném vào cỏ ướt, ném vào phân bò ướt, ném vào củi ướt, để giữa gió và mưa, và rắc bụi lên trên. Người ấy có thể dập tắt ngọn lửa lớn ấy không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi tâm dao động, trong khi ấy, phải thời là tu tập khinh an giác chi, phải thời là tu tập định giác chi, phải thời là tu tập xả giác chi. Vì sao? Vì rằng, tâm dao động, thật dễ được tịnh chỉ nhờ các pháp này.
Nhưng đối với niệm, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lợi ích trong mọi trường hợp.”
Như vậy, có hai cách để tu tập Bảy giác chi: tu tập bảy giác giác chi theo trình tự từ đầu đến cuối hoặc tu tập từng giác chi khi thấy cần thiết. Tuy nhiên, thực hành theo cách nào đi nữa, như lý tác ý vẫn luôn được áp dụng, nhằm mục đích buông xả, lìa tham… : “Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly.”
III. KẾT LUẬN
Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thất giác chi là Pháp rất quan trọng và không thể không hiểu rõ đối với bất kỳ một người tu Phật nào. Vì để đoạn tận những cấu uế của tâm, hành giả phải luôn luôn tác ý đúng pháp tức là tu tập Bảy giác chi, cho nên đây là Pháp không thể nói không đối với ai mong cầu giải thoát trong mọi thời gian, không phân biệt quá khứ, hiện tại hay vị lại: “Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời quá khứ, đã đoạn tận ba kiêu mạn (vidhà); tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong tương lai, sẽ đoạn tận ba kiêu mạn; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi. Các Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, trong thời hiện tại, đoạn tận ba kiêu mạn này; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập và làm cho sung mãn bảy giác chi này.”
Vốn là những trạng thái tích cực của tâm nên Bảy giác chi này thường được biểu hiện với trí tuệ, nếu ai biết tu tập Bảy giác chi này đồng nghĩa với người đó có trí tuệ, vì những người đó biết được tâm, thấy được tâm và nắm rõ cách điều phục tâm đúng theo chánh pháp. Ngược lại là người thiếu thốn, kém trí tuệ: “Do bảy giác chi không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Tỷ-kheo, nên được gọi là liệt tuệ ngu đần.”
Cũng như một con đường mòn, càng có nhiều người đi con đường càng bằng phẳng và sạch sẽ, nếu không có người đi lâu ngày cỏ sẽ mọc và con đường không còn nữa. Đạo Phật là con đường giải thoát, cho nên nếu có nhiều người thực hành theo thì những lời dạy của Thế Tôn càng trở nên rõ ràng không bị thất lạc hay tạp nhiễm, Tăng chúng trở nên hưng thịnh: “Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập niệm giác chi, tụ tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.”

Như vậy, Bảy giác chi là Pháp vô cùng thiết yếu trong đạo lộ giải thoát mà đức Thế Tôn đã giới thiệu, theo truyền thống Bắc tông ở Việt nam hiện nay, khi bước vào lớp Phật học đầu tiên, học Tăng đều được dạy về Thất giác chi, và những quyền sách về Phật học cơ bản phổ biến đều nói về những pháp này, do đó chúng ta thấy từ xưa các bậc tiền bối đã xác định rõ đâu là nền tảng của Phật học. Tuy nhiên, trong quá trình học, vì thiếu sự thực hành nền hầu hết chúng ta đều không thấy được giá trị cao quý trong đó, và vì vậy ít ai để ý đến tầm quan trọng của pháp nay. Trong bài này, người viết muốn gợi lại cho những người tu Phật thấy rõ điều cốt lõi trong đạo Phật để từ đó tự tìm về cội nguồn lời dạy của Thế Tôn mà học hỏi, tu tập, và tiến bước thẳng tắp đến Niết bàn, tránh bị rơi vào rừng rậm tà kiến. 

ngủ căn và ngủ lực

NGŨ CĂN VÀ NGŨ LỰC
I.GIỚI THIỆU
Bất cứ một tôn giáo hay một chủ thuyết nào trên thế giới này đều lấy niềm tin làm nền móng để xây dựng tổ chức. Tôn giáo đa phần xây dựng niềm tin một cách mơ hồ, thiếu lý trí. Các chủ thuyết khác đa phần đều có nền tảng lý luận logic để tạo lập niềm tin đối với công chúng, tuy nhiên những lý luận đó phần nhiều bị giới hạn bởi không gian và thời gian, cho nên khó có thể truyền bá rộng rãi và tồn tại được lâu dài. Đạo Phật chính thống luôn đặt niềm tin song song với lý trí, chính trí tuệ làm vững chắc niềm tin của người học Phật, tác động nỗ lực của hành giả trong chánh niệm tỉnh giác và tu tập thiền định. Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, những tinh hoa của đạo Phật,  giáo hành Ngũ căn và Ngũ lực được thiết lập theo tiến trình như trên để giúp hành giả tiến sâu đến bờ giải thoát. Sau đây chúng ta cùng nhau tìm hiểu hai giáo hành này.
II. NỘI DUNG
A. Ngũ Căn
Ngũ căn có nghĩa là năm nền tảng, yếu tố căn bản giúp hành giả tu tập, cho nên cũng được gọi là Năm căn, bao gồm Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, và Tuệ căn.
1.Tín Căn
Nền tảng thứ nhất đó là niềm Tin đối với bậc thầy của mình, đức Thế Tôn. Niềm tin ở đây phải dựa trên nền tảng sự hiểu biết rõ ràng về đức Phật với các tính chất tiêu biểu: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, đặt lòng tin ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiu Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín căn.”[1]
Mặc dù ở đây chỉ đơn thuần nói đến niềm tin đối với đức Phật qua các danh hiệu, nhưng để có niềm tin này hành giả phải có trí tuệ nhìn nhận những hành động, lời nói, sinh hoạt của Thế tôn trong khi ngài còn sống mới thấy được. Cho nên tuy đây chỉ nói là niềm tin nhưng vẫn có tuệ, như chúng ta thấy trường hợp vua Pasenadi bày tỏ sự tôn kính đối với đức Phật: “Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên: Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bậc như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
Bạch Thế Tôn, con có pháp truyn thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì". Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiu vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử, Thế Tôn khéo tu tập, hành trì".
Lại nữa bạch Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, Sát-đế-lị cãi lộn với Sát-đế-lị, Bà-la-môn cãi lộn với Bà-la-môn, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi lộn với con, con cãi lộn với mẹ, cha cãi lộn với con,con cãi lộn với cha, anh em cãi lộn với anh em, anh em cãi lộn với chị em, chị em cãi lộn với anh em, bạn bè cãi lộn với bạn bè. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống với nhau thuận hòa,thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Bạch Thế Tôn,con không thấy ngoài đây ra, có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì"...
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con là một vị vua Sát-đế-lị, đã làm lễ quán đảnh, có thể hành quyết những ai đáng bị hành quyết, gia phạt những ai đáng bị gia phạt, trục xuất những ai đáng bị trục xuất. Nhưng bạch Thế Tôn, khi con ngồi xử kiện, có người đôi khi nói ngắt lời của con. Và con không có dịp để nói: "Này Quý vị, chớ có ngắt lời nói của ta, khi ta đang ngồi xử kiện. Quý vị hãy chờ cho đến khi ta nói xong".Bạch Thế Tôn, thế mà có người vẫn ngắt lời nói của con. Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng nhảy mũi hay tiếng ho khởi lên. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: “Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp".Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì".
Lại nữa, bạch Thế Tôn, con thấy ở đây một số Sát-đế-lị bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này, chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Họ sắp đặt câu hỏi:"Chúng ta sau khi đến sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này. Khi bị ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia". Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng hay thị trấn này". Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại khai thị cho các vị này, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ðược Sa-môn Gotama, với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn! Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Bạch Thế Tôn, như vậy là pháp truyn thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì.”[2]
Hiện nay đức Phật không còn ở thế gian nữa, chúng ta không có cơ hội để tận mắt nhìn thấy ngài, vì vậy thật sự là khó khăn cho chúng ta để đặt niềm tin tuyệt đối với ngài.  May mắn thay, các bộ kinh Nikaya ghi lại những lời dạy đầy từ bi và trí tuệ của ngài vẫn còn, chúng ta có thể đọc những bản kinh này kết hợp với tư duy và quán chiếu để hiểu rõ về ngài. Khi nào chúng ta tu tập theo lời dạy của ngài và đạt được các quả vị giải thoát, khi đó niềm tin của chúng ta đối với Phật và Pháp sẽ đứng vững, không bị lay chuyển, nhờ vào trí tuệ của chính mình, như trường hợp của ngài Sàriputta trả lời đức Thế Tôn: Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Pubbakotthaka.Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta: Ông có tin không, này Sàriputta, tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử,lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... Ông có tin không, này Sàriputta, tuệ căn được tu tập,được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh?
Ở đây, bạch Thế Tôn, con không đi với lòng tin của Thế Tôn, rằng tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Với những ai, bạch Thế Tôn, không chứng trí, không thấy, không hiểu, không chứng ngộ, không đạt tới với trí tuệ; họ cần đi với lòng tin của kẻ khác (tin rằng) : "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn với những ai, bạch Thế Tôn, đã chứng tri, đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; những người ấy, ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân (tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh". Còn con, bạch Thế Tôn, đã chứng tri,đã thấy, đã hiểu, đã chứng ngộ, đã đạt tới với trí tuệ; con ở đây, không có nghi ngờ, không có phân vân(tin rằng): "Tín căn... tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.”[3]

2.Tấn căn
Điều căn bản thứ hai để tu tập ở đây là sự nỗ lực tinh tấn thực hành các thiện pháp và đoạn trừ các ác pháp, là tứ chánh cần, tinh tấn giác chi, cũng là chánh tinh tấn trong bát chánh đạo: Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, với nỗ lực kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Vị ấy đối với các pháp bất thiện chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho không sanh khởi; đối với các pháp bất thiện đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn,quyết tâm, cố gắng làm cho đoạn tận; đối với các thiện pháp chưa sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho sanh khởi; đối với các thiện pháp đã sanh, phát khởi lòng ước muốn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng làm cho an trú, không có mê ám, được tăng trưởng, quảng đại, được tu tập, được làm cho viên mãn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn căn.”[4]
3.Niệm căn
Nền tảng tu tập thứ ba là niệm, có nghĩa là ghi nhớ những điều đã qua, chánh niệm, trú tâm tỉnh giác, cũng gọi là tứ niệm xứ: Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử chánh niệm, thành tựu niệm tuệ, tối thắng, ức niệm, tùy niệm các việc làm từ lâu, và lời nói từ lâu. Vị ấy trú, quán thân trên thân... quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm căn.”[5]
4.Định căn
Điều cơ bản thứ tư để tu tập là định, nhất tâm, thuộc về thiền chỉ, gồm bốn tầng thiền: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, sau khi từ bỏ pháp sở duyên, được định, được nhất tâm. Vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thin thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ... an trú Thin thứ hai... an trú Thin thứ ba... từ bỏ lạc, từ bỏ khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thin thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo,đây gọi là định căn.”[6]
5.Tuệ Căn
Nền tảng tu tập thứ ba là trí tuệ, sự hiểu biết về nguồn gốc sanh diệt của các pháp, trong đó đặc biệt là phải hiểu rõ Bốn thánh đế: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ căn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ v sự sanh diệt của các pháp, trí tuệ thuộc bậc Thánh thể nhập (các pháp), đưa đến chân chánh đoạn tận khổ đau. Vị ấy như thật rõ biết đây là khổ,như thật rõ biết đây là khổ tập khởi, như thật rõ biết đây là khổ đoạn diệt, như thật rõ biết đây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ căn.”[7]
Như vậy, chúng ta đã có định nghĩa đầy đủ về năm căn. Trong đó Tuệ căn có tính chất soi sáng cho các căn kia. Khi hành giả có đầy đủ trí tuệ thì hành giả sẽ có tín, tinh tấn, niệm và định: Với vị Thánh đệ tử có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, tất nhiên (tadanvayà) tín được an trú, tất nhiên tinh tấn được an trú, tất nhiên niệm được an trú, tất nhiên định được an trú. Do tu tập, do làm cho sung mãn chỉ một căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".”[8]
Tuy nhiên trong quá trình tu tập theo lộ trình ngũ căn, sau khi hành giả đã có niềm tin đối với bậc đạo sư, theo lời dạy của ngài vị ấy tinh tấn nỗ lực, chánh niệm tỉnh giác thực hành thiền định cho đến tứ thiền, quán chiếu Tứ diệu đế để phát sanh trí tuệ, đoạn tận lậu hoặc, chứng đắc cứu cánh Niết bàn. Đến đây ngũ căn mới được tu tập viên mãn: “Cho đến khi nào Thánh trí chưa khởi lên nơi vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn chưa được đẳng trú (santhiti), cho đến khi ấy, bốn căn chưa được an trú (avatthiti). Và cho đến khi nào Thánh trí khởi lên nơi Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, bốn căn được đẳng trú, cho đến khi ấy, bốn căn được an trú.”[9]
Tóm lại, có hai lộ trình tu tập ngũ căn, một là chúng ta quán chiếu về các công hạnh của Phật để phát sanh niềm tin đối với ngài. Tiếp theo đó hành giả nỗ lực tinh tấn, chánh niệm tỉnh giác, tu tập thiền định và quán chiếu Tứ đế để phát sanh trí tuệ. Lộ trình thứ hai đi ngược lại, trong đó hành giả quán chiếu Tứ thánh đế trước, và khi có được cái thấy như thật đối với tứ thánh đế rồi, đồng thời cũng có niềm tin đối với Phật pháp, từ đó phát triển tinh tấn, tu tập thiền định để đoạn tận lậu hoặc. Cả hai lộ trình trước hết đều đưa hành giả bước vào địa vị thánh hữu học, sau đó tu tập để đạt cứu cánh giải thoát: “Có pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa có thể rõ biết: "Tôi là bậc hữu học", Tỷ-kheo vô học đứng trên vô học địa, có thể rõ biết: "Tôi là bậc vô học". Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học trú trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là bậc hữu học". Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học như thật rõ biết: "Ðây là khổ", như thật rõ biết : "Ðây là khổ tập khởi", như thật rõ biết: "Ðây là khổ đoạn diệt", như thật rõ biết: "Ðây là con đường đưa đến khổ đoạn diệt". Ðây là pháp môn, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là bậc hữu học".
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học suy nghĩ như sau: "Ngoài Tăng chúng này, có một Samôn hay Bà-la-môn nào khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như ThếTôn hay không?". Và vị ấy rõ biết như sau: "Ngoài Tăng chúng này, không có một Sa-môn hay Bà-lamôn nào khác có thể thuyết pháp thực như vậy, chân như vậy, như thị như vậy, như Thế Tôn". Ðây là pháp môn, này các Tỷ-kheo, y cứ pháp môn ấy, Tỷ-kheo hữu học đứng trên hữu học địa rõ biết: "Tôi là bậc hữu học".”[10]
B. Ngũ Lực
Ngũ lực thường được gọi là năm sức mạnh, đó là sức mạnh của lòng tin, sức mạnh của tinh tấn, sức mạnh của chánh niệm, sức mạnh của thiền định và sức mạnh của trí tuệ: Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này. Thế nào là năm? Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là ThếTôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng sĩ, Ðiu Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu cácthiện pháp, nỗ lực kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tấn lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có chánh niệm, thành tựu tối thắng niệm và tuệ. Vị ấy nhớ vàgợi lại trong trí nhớ những điu đã nói và đã làm lâu ngày v trước. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là niệm lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ly các dục,ly các bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thinthứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thin thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ,trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, được các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thin thứ ba. Ðoạn lạc đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thin thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là định lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ v sanh diệt, với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.”[11]
Như vậy, về nội dung Ngũ lực cũng giống như Ngũ căn, tuy nhiên chắc chắn phải có một điều gì đó khác cho nên đức Phật mới nói Ngũ lực riêng ra, theo chúng tôi nghĩ điều khác nhau này có thể nằm ở sự vận dụng của hành giả, nếu hành giả vận dụng năm chi phần này như là những nền tảng để tu tập thì đó được xem là Ngũ căn, nhưng nếu hành giả phát triển làm thành các sức mạnh thì đó là Ngũ lực. Trong kinh Nikaya, Ngũ căn và Ngũ lực không có sự phân biệt rõ ràng, mà được xem gần như nhau: “Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn. Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, năm căn tức là năm lực, và năm lực trở thành năm căn?
Cái gì là tín căn, này các Tỷ-kheo, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn. Cái gì là tấn căn,cái ấy là tấn lực. Cái gì là tấn lực, cái ấy là tấn căn... Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực,cái ấy là tuệ căn.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con sông thiên v phương Ðông, hướng v phương Ðông, xuôi vphương Ðông, và giữa con sông có hòn đảo. Này các Tỷ-kheo, có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một. Nhưng này các Tỷ-kheo, lại có pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai.
Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, được tính là một? Này các Tỳ-kheo,nước cuối phía Ðông và nước cuối phía Tây của hòn đảo ấy được tính là một dòng. Này các Tỷ-kheo,đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là một.
Và này các Tỷ-kheo, pháp môn ấy là gì, y theo pháp môn ấy, dòng con sông ấy được tính là hai? Này các Tỷ-kheo, nước cuối phía Bắc và nước cuối phía Nam của hòn đảo ấy được tính là hai dòng. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn, y theo pháp môn ấy, dòng sông ấy được tính là hai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì là tín căn, cái ấy là tín lực. Cái gì là tín lực, cái ấy là tín căn... Cái gì là tuệ căn, cái ấy là tuệ lực. Cái gì là tuệ lực, cái ấy là tuệ căn.
Này các Tỷ-kheo, do tu tập, do làm cho sung mãn năm căn này, Tỷ-kheo đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không có lậu hoặc.”[12]
III. KẾT LUẬN
Trong quá trình tu tập, Ngũ căn và Ngũ lực luôn luôn gắn bó với hành giả, cũng chính là năm điều căn bản và là năm sức mạnh giúp người tu tập đạt đến địa vịa giải thoát. Cho nên, là một hành giả tu tập theo đạo Phật, năm điều này là không thể thiếu, nếu cố gắng phát triển năm căn này đến viên mãn, thì chắc chắn sẽ được cứu cánh giải thoát, nếu vẫn còn yếu thì vẫn vào được địa vị thánh hữu học: Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... tuệ căn. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm căn.
Với sự đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, với sự viên mãn năm căn này, là bậc A-la-hán. Yếu nhẹ hơn là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn (Upahacca parinibhàvii). Yếu nhẹ hơn là bậc Vô hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Hữu hành Niết-bàn. Yếu nhẹ hơn là bậc Thượng lưu,đạt đến Sắc cứu cánh thiên. Yếu nhẹ hơn là bậc Nhất lai.Yếu nhẹ hơn là bậc Dự lưu. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy pháp hành. Yếu nhẹ hơn là bậc Tùy tín hành.”[13]
Giáo pháp được đức Phật khéo thuyết giảng là “thiết thực hiện tại, vượt thoát thời gian, đến để mà thấy”, đòi hỏi hành giả phải áp dụng tu tập mới có thể hiểu được. Ngũ căn và Ngũ lực cũng vậy, là những pháp hành, là những nền tảng và sức mạnh để tu tập, đưa đến giải thoát giác ngộ: Tín căn, này các Tỷ-kheo, là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tấn căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Niệm căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Ðịnh căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ. Tuệ căn là pháp thuộc phần giác ngộ, vì đưa đến giác ngộ.”[14]
Tuy nhiên, chúng tôi ở đây, ý chí kém cỏi, trí tuệ chậm chạp, chưa thể thực hành viên mãn các thiện pháp này, nên chỉ dựa vào kinh điển Nguyên thủy ghi chép lại mấy điều, không sao tránh khỏi thiếu sót, mong rằng các bậc thánh trí có thấy, kính xin chỉ bày, để những kẻ hậu học ngày sau biết đường tu tập.



[1] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 307
[2] Kinh trung bộ II, kinh pháp trang nghiêm, số 89
[3] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 344
[4] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 309
[5] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 309
[6] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 310
[7] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 310
[8] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 347
[9] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 355
[10] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 357
[11] Kinh tăng chi bộ II, chương năm pháp, trang 319
[12] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 342
[13] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, tran 314
[14] Kinh tương ưng bộ V, chương tương ưng căn, trang 354