Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2012

Ngiệp, Chấp Thủ, và kHổ Đau


Nghiệp, Chấp THủ, Và KHổ Đau

Khát khao hạnh phúc và giải thoát khổ đau là những vấn đề muôn thuở của nhân loại. Từ những thao thức đó con người tạo ra vô số những trường phái, tư tưởng, tôn giáo, triết học… khác nhau. Tuy nhiên, ngoại trừ Phật giáo, tất cả đều không thể đưa con người đến giải thoát khổ đau và an lạc hạnh phúc. Lý do là tất cả họ đều chưa thoát khỏi sự trói buộc của chấp thủ năm uẩn, cho nên quan điểm của họ đều bị trói buộc trong cái nhìn hữu ngã. Họ đưa ra tư tưởng, quan điểm, lý thuyết, quy luật… để giải thoát khổ đau nhưng chính họ lại bị kẹt vào những tư tưởng đó và còn trói buộc và làm khổ đau vô số những người khác. Đó chính là do họ không đoạn trừ nghiệp cũ mà còn tạo thêm nghiệp mới.
Khi mới sinh ra, một em bé chưa hề có một ý tưởng về tự ngã của mình: chưa thể nhận ra được khuôn mặt trong gương là chính nó, chưa biết được rằng nó chính là Tèo hay Tí… mãi cho đến khoảng hai tuổi. Trong khoảng thời gian đó, nếu có ai kêu tên nó mà chê bai hay phê phán thì nó cũng chẳng giận. Cũng giống như bản thân người viết, khi mới vào học viện, tôi không có phải tên là “đại ca”, và có lẽ lúc đó nếu có ai đó kêu cái “đại ca” mà chửi, thì tôi cũng chẳng giận hờn gì, tuy nhiên sau vài tháng anh em trong chúng cứ thường gọi tôi bằng cái tên “đại ca”, và cứ vậy hễ nghe gọi “đại ca” là tôi biết họ đang gọi mình, và nếu họ nói xấu cái “đại ca” đó thì chắc là tôi buồn lắm. Như vậy nó là từ thói quen dẫn đến chấp thủ (mình là đại ca) và bị trói buộc khổ đau. Đó là khổ đau do chấp thủ cái ta.
Chung sống trên hành tinh này có hàng ngàn dân tộc khác nhau và mỗi dân tộc có mỗi nền văn hoá khác nhau. Văn hoá do con người tạo ra, phản ảnh nền văn minh của mỗi dân tộc, là thói quen (nghiệp) sinh sống của người dân trong cộng đồng đó và nó thay đổi theo sự nhận thức của con người trong mỗi thời đại. Tuy vây, nếu nhận thức con người không đủ sáng suốt, chấp thủ vào văn hoá, thì khổ đau sẽ sanh ra từ đó. Chẳng hạn, một người con gái sanh ra ở Ấn độ, khi lấy chồng, cô không còn được sống (nghiệp) với cha mẹ nữa mặc dù cha mẹ cô ấy chỉ có một người con gái, dù cô thương cha mẹ, cô cũng không thể sống với họ để chăm sóc họ. Bản chất của văn hoá là trống rỗng, là không, nó không hề có ý ngăn cản con gái có chồng sống với cha mẹ mà do con người cố chấp vào văn hoá nên bị nó trói buộc. Văn hoá không làm cho thân quyến chia lìa mà chính chấp thủ hay do không thấy được sự trống rỗng (do duyên tạo ra) của nó nên bị chia ly. Đó là khổ đau do giới cấm thủ.
Có lẽ ai đã từng sang thăm Ấn độ đều cảm nhận được khổ đau do không ăn được thức ăn của người Ấn nấu. Tuy nhiên, gần một tỉ người Ấn hàng ngày vẫn ăn thức ăn được nấu theo cách đó. Chúng ta sinh ra ở Việt nam, quen (nghiệp) ăn thức ăn nấu theo cách người Việt nên khẩu vị của chúng ta khác với người Ấn, do đó cảm thọ của chúng ta về thức ăn cũng khác, vì vậy khi gặp phải thức ăn không hợp với cảm thọ mình thì bị đau khổ. Thật ra cái cảm thọ hay thức ăn không hề làm ta đau khổ, mà do thói quen và chấp thủ vào thói quen đó, dù cho là ta phải ăn mùi như vậy, vị như vậy, vị như vậy mới ngon nên bị nó trói buộc. Đó là khổ do chấp thủ về cảm thọ.
Ngôn ngữ là một phương tiện do con người tạo ra để giao tiếp và biểu lộ tình cảm. Mỗi người sinh ra ở mỗi đất nước khác nhau sử dụng một ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ đầu tiên được hình thành trong con người do nó được lặp đi lặp lại nhiều lần (nghiệp) trong sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ, khi một em bé mới sinh ra chưa biết từ “ăn” có nghĩa là gì cả, nhưng khi bộ não phát triển tương đối, và hàng ngày bà mẹ đưa thức ăn vào miệng và nói rằng “ăn đi con”, thì từ “ăn” được hình thành trong nhận thức của em bé, và cứ mỗi lần nói “ăn” là hiểu ngay rằng đưa thức ăn vào miệng, nhai, và nuốt… Cứ như vậy những từ khác được hình thành trong mỗi người. Bản chất của ngôn ngữ là vậy, nó không hề gây ra khổ đau cho con người mà do chính nhận thức của con người làm họ khổ đau. Chẳng hạn, khi có ai đó chỉ vào mình và nói “đồ ngu” mình tức lắm, nhưng nếu mình không hiểu “ngu” nghĩa là gì cả thì mình không hề hấn gì cả cũng như mình chửi một người không biết tiếng Việt vậy thôi. Đối với mình, do cứ nghĩ rằng ngu là không thông minh, xấu, kém trí tuệ… cho nên mình bị khổ đau. Như vậy khổ đau là do mình suy nghĩ, càng suy nghĩ nhiều càng khổ đau nhiều, vì càng suy nghĩ (suy nghĩ về hữu ngã, không phải để đối trị với tham, sân, si) nhiều, chấp thủ hành uẩn càng hoạt động mạnh. Đó là chấp thủ về hành uẩn trong năm uẩn.
Như vậy, cuộc sống là cả một dòng chảy của chấp thủ, ngã và nghiệp. Vì khi thấy có ngã nên bắt chước, làm theo, và tạo nghiệp mà trói buộc mình. Chẳng hạn khi thấy người khác giàu sang và sung túc, ý thức được rằng không có cái giàu sang hay sung túc thật sự mà tất cả đều trống rỗng thì không sanh tâm ganh ghét, cũng không đua chen, không ham muốn, không tạo nghiệp, và vượt qua các nghiệp đã tạo nên thoát khỏi khổ đau. Ngược lại, nếu không thấy được rằng mình là trống rỗng, mọi thứ là trống rỗng thì tự nhiên sanh tâm đua chen, ham muốn, tạo nghiệp, không thể thoát khỏi nghiệp cũ nên không thoát khỏi khổ đau. Muốn thoát khỏi đau khổ thì phải vượt qua biển nghiệp bằng cách nhìn thấy chính mình và sự vật đều trống rỗng (do duyên sanh, không thật) để không tạo nghiệp mới và loại bỏ nghiệp cũ… Muốn vậy, chúng ta phải diệt bỏ chấp thủ ngũ uẩn. Vì nếu chúng ta nhìn thấy rằng mình là trống rỗng, cảm thọ khó chịu đến từ lỗ tai cũng trống rỗng, chữ “ngu” cũng trống rỗng, cái nhận thức về chữ “ngu” đó cũng trống rỗng, cái tưởng tượng người kia đang chửi mình ngu cũng trống rỗng, và cái tư duy về chữ “ngu” đó nghĩa là xấu cũng trống rỗng nữa thì hết khổ đau.
Ngoài ra, tại vì chấp thủ năm uẩn tức là còn thấy sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là ta, là của ta, là tự ngã của ta nên sẵn sàng lên rừng xuống biển, giết người hại vật, tạo vô số tội lỗi để bảo vệ năm uẩn này. Chúng ta thử xem cuộc đời này tất cả những gì chúng ta làm không gì khác hơn là nuôi thân, cảm thọ, tưởng, hành, và thức này. Chúng ta tạo nghiệp để thoả mãn ham muốn sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Nhiều lúc mình tưởng rằng mình đang làm cho người, nhưng nhìn cho kỹ nó cũng chỉ là ái mà thôi. Cho nên, đời sống phạm hạnh của một người xuất gia thời đức Phật sống hết sức đơn giản, để hạn chế tối đa sự trói buộc của năm uẩn, sau đó mới dùng trí tuệ để đoạn trừ chấp thủ năm uẩn đó đi vào vô thủ trước Niết bàn. Chỉ khi nào đoạn trừ được chấp thủ năm uẩn thì thân hành, khẩu hành, và ý hành chúng ta mới không bị trói buộc bởi tham, sân, si. Năm thủ uẩn là chỗ trú của tham, sân và si, nếu chưa loại bỏ được năm thủ uẩn mà cứ hành động là tham, sân, và si khởi ngay.
Hơn nữa, tất cả chúng sanh phải trôi lăn trong luân hồi sanh tử là vì chấp thủ năm uẩn, cho rằng đây là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Do đó không thấy được sự thật của các pháp, không hiển lộ được trí tuệ sáng suốt của mình. Do chấp thủ năm uẩn nên sanh ra ở đâu cũng bị trói buộc bởi nghiệp cũ và do cái thấy hữu ngã nên tạo thêm nghiệp mới rồi bị trói buộc vào đó mà bị tái sanh nơi này nơi khác, không vượt ra khỏi sanh tử luân hồi. Đức Phật sanh ra nơi đời này để chỉ cho chúng sanh thấy rằng tất cả chúng sanh đều có khả năng phát triển trí tuệ viên mãn đưa đến giải thoát hoàn toàn, nhưng phải loại bỏ chấp thủ ngũ uẩn, tức là xa rời khỏi sự trói buộc bởi cái thấy hữu ngã đối với năm uẩn trước, thì cái thấy trí tuệ mới hiện bày.
Như được đề cập ở trên, tất cả chúng ta sinh ra nơi đời này bên cạnh nghiệp riêng từ trước, chúng ta lại huân tập thêm nghiệp chung bởi thế giới này, đó là văn hoá, phong tục, thói quen, ngôn ngữ, địa lý, thiên nhiên… cho nên để có được một cái thấy khách quan còn khó huống nữa là cái thấy trí tuệ. Ví dụ, một người sinh ra ở Huế, bị ảnh hưởng bởi địa hình; núi cao, sông sâu, đất đai cằn cỗi… bởi thời tiết khắc nghiệt: mưa, lạnh, nóng bức… rồi bởi văn hoá phong kiến… cho nên họ thích lặng lẽ, tao nhã, cung cách, khắc khổ… do đó khi nhìn người nào như vậy thì họ cho là tốt, có tu… Tuy nhiên, sự thật không phải vậy, có những người không như vậy nhưng họ tu tập rất tốt. Quả thật, chúng ta đi đâu cũng mang cả nghiệp chung và nghiệp riêng của mình để nhìn cuộc đời, mà nhìn như vậy thì không bao giờ là khách quan cả nói chi đến cái nhìn trí tuệ. Vì vậy, một người có chánh kiến đừng vội đánh giá người khác, mà phải nhìn lại mình xem còn bị kẹt vào chỗ nào không.
Phật là đấng toàn giác, ngài thấy rõ nguồn gốc mà từ đó chúng sanh bị trói buộc, nên ngài đã chỉ rõ còn đường giải thoát đó là Giới, Định, và Tuệ. Tại sao phải là Giới, Định, và Tuệ, mà không phải là con đường khác? Vì chúng sanh từ vô thỉ kiếp, do vô minh che lấp, bị trói buộc bởi năm uẩn, nên đã tạo vô số hành nghiệp. Cho nên muốn giải thoát, trước hết phải giữ giới để ngưng tạo thêm nghiệp mới, sau đó tu tập định Tứ Niệm Xứ để trừ diệt nghiệp cũ, và cuối cùng dùng gươm trí tuệ của thiền quán để cắt đứt vô minh mà được giải thoát. Đó là con đường duy nhất, mà tất cả chúng sanh nào mới vào đạo, muốn giải thoát giác ngộ đều phải đi xuyên suốt cả ba chặng. Tuy nhiên, nếu ai đã thành tựu giới uẩn rồi thì có thể đi thẳng vào Định, và nếu thành tựu Định rồi thì có thể hành Tuệ. Tuệ ở đây chính là con đường đốn ngộ của Lục tổ Huệ Năng. Hành trì Giới và Định chính là con đường tiệm ngộ của ngài Thần Tú. Chúng ta phân chia có tiệm có đốn vì căn cơ chúng sanh có thấp có cao, có người tu tập giới và định thanh tịnh từ nhiều đời rồi nên giờ này chỉ cần một câu khai ngộ là sáng ngay, còn chúng ta nghiệp chướng còn dày thì lo giữ giới và tham thiền để mong ngày liễu ngộ.
Quả thật, có thân ngũ uẩn này là khổ vô cùng. Người ta cứ tưởng rằng đời sống vật chất ngày càng cao thì con người càng bớt khổ đau. Tuy nhiên, nó càng khổ đau hơn nữa. Tại sao vậy? Con người có hai phần tâm lý và vật lý gọi là danh và sắc. Tuy nhiên sắc thì chỉ có một mà danh thì có tới bốn (thọ, tưởng, hành, thức) vì vậy cái khổ về thân vật lý thì chỉ có một mà cái khổ về tâm lý có tới bốn. Do đó, mặc dù với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật con người bớt đi đau khổ vật lý rất nhiều ngược lại đau khổ tâm lý lại tăng gấp bội; nhiều người mắc các chứng bệnh tâm lý như trầm cảm, rối loạn thần kinh, mad… Có thể đây là một vấn đề mà các nhà khoa học, tâm lý học, bác sĩ… đang rất quan tâm.
Căn cứ trên tư tưởng Phật giáo, khổ đau tâm lý phát xuất từ thọ, tưởng, hành, và thức. Khi khoa học và kỹ thuật phát triển, con người không phải làm việc chân tay nhiều nghĩa là khổ đau về vật lý được giảm, tuy nhiên khi chuyển sang làm việc trí óc thì bốn bộ phận tâm lý làm việc mạnh hơn, tư duy nhiều hơn do đó bị khổ đau về tâm lý nhiều hơn.
Hơn nữa, bốn hành uẩn thuộc về tâm lý này làm việc do sự xúi giục của tham dục, sân và si. Vì vậy, còn làm phàm phu thì tham, sân và si làm việc rất mạnh và do đời sống vật chất dồi dào nên tâm lý tham càng mạnh mà tham mạnh thì si cũng mạnh. Tuy nhiên, các pháp hữu vi là vô thường, ngắn ngủi, không thật, nên con người tìm cầu bao nhiêu thì lại thất vọng bấy nhiêu, thì khổ đau bấy nhiêu.
Với những điều kiện kỹ thuật hiện đại, giờ làm việc được giảm, tuy nhiên do tâm lý còn tham, sân, và si nên không thể nghỉ ngơi được. Có nhiều thời gian nghỉ ngơi mà không biết tận dụng để diệt trừ tham, sân, và si ngược lại đi tìm cảm thọ nơi này nơi khác, tạo thêm nghiệp khổ làm mồi cho tham, sân và si tăng trưởng. Do đó, thời gian rảnh trở lại là cái hại làm cho con người thêm đau khổ.
Mũi tên độc đang cắm sâu trong tâm thức chúng ta chính là tham, sân, si. Cho nên chúng ta phải làm sao để loại bỏ tham, sân, si là điều cốt lõi nhất. Nếu chưa loại bỏ tham, sân, si tất cả những tư duy đều rơi vào hữu ngã là mồi của tham, sân, si cả. Có nhiều lúc mình tư duy những điều trừu tượng vượt ngoài phạm vi suy nghĩ, mình nghĩ nó là không do tham, sân, si làm chủ nhưng thật ra có tham, sân, si trong đó. Vì sao? Vì nếu không có si thì ta thấy rõ rồi không cần phải tư duy gì nữa, và dù đó là tư duy cái gì đi nữa mà không phải để đối trị tham, sân, si thì tư duy đó cũng là tham: tham kiến thức, tham hiểu biết, bị rơi vào hữu ngã ngay, tà kiến ngay. Cho nên người có trí cần phải cẩn thận, đừng quá tự tin vào cái thấy của mình để rồi rơi vào ma nạn.
Con người hơn động vật ở chỗ là có khả năng tư duy để vượt ra ngoài tham, sân, si. Chúng ta có thể thấy một con khỉ, nó luôn suy nghĩ, nhưng đối tượng của nó không gì hơn là thức ăn, đối tượng của dục, kẻ thù và sở hữu của nó. Mặc dù con khỉ nó cũng có tình cảm nhưng nó chỉ là một sự chấp thủ cho rằng đây là con ta và nó bị sanh là con khỉ là vì đời trước của nó tham, sân, và si quá nặng đến nỗi che lấp mất trí tuệ, thiện pháp, từ bi… Chúng ta được làm người đó là vì tham, sân, si trong chúng ta không quá lớn đến nỗi không thể thấy được thiện pháp, chúng ta cũng có lòng từ bi, do đó chúng ta có khả năng tư duy để nuôi dưỡng từ bi và trí tuệ. Nếu chúng ta không biết tư duy để loại bỏ tham, sân, si thì chúng ta cũng đồng với con khỉ hay có thể bị sanh làm khỉ trong tương lai.
Như vậy, cái hại của những khoa học hiện đại, phát triển nhờ trí tuệ hữu ngã chỉ làm cho con người thêm khổ đau. Đức Phật là bậc Giác ngộ, ngài với trí tuệ vô ngã, ngài biết tất cả nhưng ngài không nói, chứ không phải là ngài không biết. Chúng ta lậu hoặc chưa đoạn, vô minh còn dày, không khéo cân nhắc mà càng làm thì càng tạo thêm tội lỗi và đau khổ cho mình và chúng sanh mà thôi.
Hơn nữa, do nghiệp trói buộc nhiều đời nên chúng ta cứ ham mê trong cảm thọ (thọ trong ngũ uẩn), chúng ta cứ tưởng là sống mà không có cảm thọ thì không thể sống nổi, thật ra sống trong cảm thọ làm cho con người ta ngu đi, không có trí tuệ. Vì cảm thọ là vô thường, trống rỗng, không thật nên càng sống trong cảm thọ con người càng khổ đau, ảm đạm, và u ám lắm cho nên chỉ có trí tuệ mới giúp ta vượt qua khỏi đau khổ và vui vẻ thật sự.
Ngoài ra, mục đích tu tập để đạt đến giải thoát tối hậu là phải đoạn trừ năm thủ uẩn, do đó trong khi tham, sân, si còn đó và năm thủ uẩn vẫn vận hành liên tục thì cần hết sức cẩn thận, cố gắng đừng cho năm uẩn hoạt động, tức là mình chặn nó ngay ở nơi hành - chi thứ hai trong mười hai chi nhân duyên. Mặc dù có những người chủ trương đoạn ái, có người chủ trương đoạn thủ, có người chủ trương đoạn thức, đoạn thọ… trong giáo pháp của Đức Phật dạy chúng ta thực tập tất cả, nghĩa là gặp trường hợp nào thì dùng liệu pháp ấy đừng chờ thấy ái khởi mới đoạn, hay chỉ đoạn thủ không thôi còn để ái chảy thì sai lầm cả. Vì sao vậy, có khi cái ái vi tế quá chúng ta không thể thấy được, chúng ta cứ tưởng nó là không phải ái, cho nên trong trường hợp này mình phải để ý ở hành (thân hành, khẩu hành, và ý hành) mà đoạn, nghĩa là mình nên nghĩ rằng mình chưa chứng đắc Alahán nên chắc chắn tư duy và hành động của mình không tránh khỏi sự chi phối của tham, sân, si cho nên chúng ta phải đoạn hành, tức là ngưng tác ý; có khi căn cơ mình còn thấp kém không đủ chánh niệm tỉnh giác, định chưa sâu thì không thể thấy được hành ở trong tâm, thì mình nên đoạn ngay nơi xúc, vì xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, thì tham dục khởi lên mất công tìm kiếm để đoạn trong tâm mệt; có những cái ái nó cao thượng lắm mà mình cứ tưởng nó là đúng pháp nên vẫn bị nó trói buộc không biết làm sao để đoạn nó, vì vậy mình nên đoạn ở thủ… Hành giả phải luôn luôn tỉnh giác, quán chiếu khổ, vô thường, và duyên khởi, áp dụng vào tất cả các trường hợp, tất cả các chi phần, tất cả các pháp, để khỏi bị tam độc lừa bịp. Như vậy, mình có nhiều kinh nghiệm tu tập sau này có thể hướng dẫn người khác, và do đó dù tam độc nằm ở bất cứ ở ngõ ngách nào, xó xỉnh nào ta cũng tìm thấy để trừ diệt nó.
Bao nhiêu năm qua khổ đau vây bủa mà không biết, không hay, chúng tôi cứ chạy lòng vòng hết chỗ này đến chỗ khác để trốn, đến khi không thể trốn được nên phải nhìn vào nó mới thấy được chân tướng của nó (phát sanh từ chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành, và thức). Có lẽ nó rất là khó hiểu, nhưng chắc là người đã từng trải khổ đau nhiều rồi sẽ thấy rất dễ. Vì dù nói nhiều, nhưng cái cốt lõi vẫn là Tứ Diệu Đế. Nếu thấy được sự thật về khổ thì sẽ thấy được nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Khổ, vui, hay không khổ không vui đều thuộc về cảm thọ (thọ uẩn trong ngũ uẩn) mà cảm thọ sanh ra do bốn uẩn còn lại đó là sắc, tưởng, hành, và thức. Mà bốn uẩn này thay đổi liên tục, đặc biệt là tưởng, hành (thân hành, khẩu hành, và ý hành), và thức cho nên chúng sanh cũng khổ vui liên tục. Tất cả những khổ vui đó là do tưởng (tưởng về chuyện vui thì cảm thọ vui, tưởng về chuyện buồn thì cảm thấy buồn) mà có, do hành (đặc biệt là tâm hành, tư duy về điều vui thì cảm thọ vui mà tư duy về chuyện khổ thì cảm thọ khổ) mà có, và do thức (nhận thức tích cực thì thấy vui, nhận thức tiêu cực thì buồn). Trong mười hai nhân duyên, thọ (sầu, bi, khổ, ưu, não) thuộc chi thứ bảy sanh ra do xúc - chi thứ 6, xúc do sáu căn tiếp xúc sáu trần - lục nhập (trong lục nhập, ý căn rất quan trọng, đối tượng của nó là hình bóng của thọ, tưởng, hành, và thức, tức là mình tưởng lại cái thọ, cái tưởng, cái hành, và cái thức của mình). Cho nên gọi chấp thủ năm uẩn là khổ. Khi nào thấy phiền muộn mình ngồi lặng lại nhìn kỹ vào tâm mình xem khổ ở đâu sẽ thấy được sự vận hành của nó. Đừng chạy trốn khổ đau bằng cách xem ti vi, đọc sách, mua sắm, quán bar, sàn nhảy… vì đó chỉ là cách để trốn khổ đau thôi mà không phải đoạn trừ khổ đau. Khi nào thấy được sự khổ đau đang vận hành trong năm uẩn là thấy pháp. Và phải thấy như vậy mới hi vọng hết khổ đau, còn không thì khổ đau muôn kiếp.
Chúng ta biết rằng tất cả các pháp đều do duyên sanh, do duyên mà tồn tại, và do duyên mà hoại diệt. Không có một pháp nào tự nó tồn tại một mình cả. Vì chúng ta không thấy được tính duyên khởi của nó nên chấp thủ, ích kỷ (chi hữu trong mười hai chi nhân duyên), và khổ đau. Để làm sáng tỏ thêm ý tưởng này, xin lấy ví dụ có một người rất thương mình, cho mình một món quà và mình rất cảm động về món quà đó vì mình luôn luôn nghĩ rằng món quà đó là do người đó tặng và vì thương mình nên người đó mới tặng món quà đó cho mình. Vì cứ nghĩ rằng có một người thật sự, một món quà thật sự, một cái mình thật sự và một tình cảm thật sự riêng biệt nào đó nên mình bị trói buộc, rung động, và khổ đau. Tuy nhiên, nếu mình nghĩ rằng không có một người đó độc lập mà cả vũ trụ này cùng có trong người đó, không có một món quà độc lập mà nhiều yếu tố khác nữa như người gói quà, người làm quà, người mang quà… cái tình cảm, và cả cái mình này cũng vậy. Nếu mình biết nghĩ như vậy thì mình không chỉ thương một người cho quà thôi mà thương cả cha mẹ người cho quà, cả quê hương xứ sở của người cho quà, người công nhân làm ra món quà, người làm thuê vận chuyển quà… Biết suy nghĩ như vậy thì tâm mình bao dung hơn, rộng lớn hơn mà không bị trói buộc bởi một tình cảm nhỏ nhen thấp hèn nào. Đối với người chửi ta, mắng ta cũng vậy, không có một người độc lập đang chửi ta mà cả một quần thể gồm nhiều yếu tố và ta cũng nằm trong quần thể đó. Nên không có gì giận dữ cả. Và đó là sự thật tuy nhiên chúng ta vì tham, sân, và si che lấp không thấy được nên bị chấp thủ trói buộc và khổ đau mãi.
Tất cả khổ đau và hạnh phúc đều thuộc về cảm thọ mà cảm thọ đến từ sắc, tưởng, hành và thức. Sắc gồm có nội sắc và ngoại sắc. Khi tác ý có một sắc nào đó đẹp là mình khởi lên cảm thọ hỷ ngay hoặc sắc xấu là mình thấy bực bội. Khi mình nghĩ về một lời nói, hành động, hay ý nghĩ nào đó của chính mình hay của người khác, mình cũng sanh hân hoan hay bực bội. Rồi mình lại tưởng về một sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nào đó khả ý, khả lạc mình cũng cảm thấy hân hoan và dục vọng sanh. Mình cũng có khi tưởng về một cái nhận thức, tư duy, hành động, lời nói nào đó liên hệ tới đối tượng dục vọng mình cũng sanh hân hoan. Tuy nhiên tất cả những cái làm sanh khởi cảm thọ đó đều biến đi nhanh chóng, hoại diệt, và duyên khởi. Cho nên cảm thọ cũng trôi đi nhanh chóng. Vì vậy tất cả năm uẩn đều tạm bợ và vô thường, không đáng để cho chúng ta phải bị trói buộc.
Tất cả những hân hoan hay gọi là hạnh phúc đến từ cảm thọ đều là không thật, không phải là hạnh phúc thực sự mà hạnh phúc thật sự chỉ có khi nào cảm thọ hoàn toàn vắng mặt tức là năm thủ uẩn hoàn toàn bị loại bỏ. Trong kinh Tiểu không (Trung bộ), thậm chí Đức Phật nhập Vô tướng tâm định, chỉ có lâm tưởng, tâm vẫn còn bị phiền muộn duy nhất bởi lâm tưởng đó gây ra. Cho nên khổ đau chỉ hoàn toàn vắng mặt khi chúng ta chứng nhập diệt thọ tưởng định. Đó chính là chứng đắc vô thủ trước Niết bàn.
Theo duy vật biện chứng của Angel, tất cả mọi vật luôn vận động và biến đổi đi lên, và nghiệp thức của chúng ta cũng vậy luôn vận động biến đổi đi lên, bắt đầu từ vô minh và cuối cùng là minh tức là giác ngộ giải thoát, bắt đầu là một vô tình đầy những vô minh rồi cuối cùng là “một hữu tình không còn bị si chi phối”. Tất cả mọi chúng sanh đều khát khao hạnh phúc và né tránh khổ đau (Socraste and Aristotle). Vì vậy, khi ở trong khổ đau thì tự nhiên họ tìm cách ra khỏi khổ đau, và cách để ra khỏi khổ đau của mỗi người, mỗi loài mỗi khác tuỳ theo mức độ trí tuệ của họ, nhưng chỉ có Trí tuệ Bát nhã mới cắt đứt được hoàn toàn khổ đau, chúng ta thấy rằng trí tuệ con người hiện đại rất vĩ đại - họ biết được quy luật vô thường, duyên sinh, (Symbolyc interactionism of Mead, Dialectism of Angel, interdependent of Lewin…) nhưng vẫn bị trói buộc bởi cái thấy đó nên cứ lòng vòng trong tam giới mà thôi vì họ không biết vận dụng những cái thấy đó để ra khỏi tham, sân, và si để giải quyết khổ đau.
Mặc dù rồi cuối cùng ai cũng ra khỏi khổ đau và thành tựu chánh giác tuy nhiên muốn đạt được vô thượng chánh giác thì cần phải thực hành Bát thánh đạo, hay giới - định - tuệ. Đó là con đường duy nhất ra khỏi khổ đau. Và con đường Bát thánh đạo hay giới định tuệ chỉ có Phật mới chỉ được, và chỉ có trí tuệ của Bậc giác ngộ tuyệt đối mới thấy một cách thông suốt cả pháp giới, không bị kẹt vào cái thấy đó, và vận dụng một cách khéo léo cái thấy đó để giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau (Pháp được Như Lai khéo thuyết giảng). Đó là lý do tại sao trong truyền thống cứ một thời gian thì phải có một vị Phật ra đời.
Mặc dù vô số chúng sanh hiện nay đang trôi lăn trong sanh tử luân hồi, tâm đầy tà kiến và tham dục nhưng trong họ vẫn có một sự khát khao hạnh phúc vì khát khao hạnh phúc đó thúc đẩy nên họ tìm cách này hay cách khác để giải thoát khổ đau. Hơn nữa, trong pháp giới trùng trùng duyên khởi này tất cả chúng sanh đều có liên hệ với nhau không ít thì nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp và do sự vận động của pháp giới nên từ duyên ít dẫn đến duyên nhiều, từ duyên gián tiếp dẫn đến duyên trực tiếp và như vậy rồi cuối cùng ai cũng được gặp Phật pháp để chứng ngộ giải thoát. Như trong kinh Hàng Ma (Trung Bộ 3), ngài Mục Kiền Liên nói rằng ngài đã từng là thiên ma nhiễu hại tăng chúng và Phật trong quá khứ nên bị đoạ xuống địa ngục vô gián, nhưng ta thấy rồi cuối cùng ngài cũng giải thoát giác ngộ.
Mặc dù biết rằng rồi cuối cùng chúng ta cũng giải thoát giác ngộ nhưng nếu bỏ lỡ cơ hội lần này thì uổng lắm và không biết bao nhiêu kiếp nữa mới gặp lại Phật pháp để được giải thoát giác ngộ. Đức Phật ví dụ được thân người như khúc gỗ mục trăm năm trôi xuống biển một lần, có con rùa trăm năm trồi lên mặt biển một lần, để gặp được khúc gỗ mục mà chui vào thì biết khó chừng nào. Cơ hội chúng ta gặp được Phật pháp ngày nay còn khó hơn con rùa gặp được khúc gỗ mục, nếu không chui vô thì đợi biết bao giờ mới gặp được Phật pháp trở lại.
Đức Phật thường dạy tất cả các pháp hữu vi là vô thường, trống rỗng, không thật, khổ đau. Tại sao vậy? Vì tất cả các pháp hữu vi là do duyên sinh, luôn luôn biến đổi cho nên chúng là không thật, trống rỗng. Vì nó luôn luôn biến đổi nên chúng ta không thể bắt nó được, không thể nắm nó được vì vậy nó cũng có nghĩa là trống rỗng. Vì chúng ta không thể bắt nó được và không thể nắm nó được mà cố nắm nó thì sẽ bị nó làm cho khổ đau.
Trong cuộc sống hiện đại, với sự biến đổi liên tục của khoa học kỹ thuật và kinh tế thị trường chúng ta dễ dàng thấy được điều này. Ví dụ, mình thích một máy vi tính hiện đại nhất, mới mua một cái máy hiện đại nhất và mình tự hào về nó lắm nhưng vừa mới trở về nhà xem tivi là đã thấy xuất hiện một cái máy mới hơn vậy nữa, do đó niềm tự hào về cái máy mới nhất bị biến mất, cảm thấy hối tiếc và khổ đau nữa.
Chưa chứng được vô thủ trước Niết bàn tức là tham, sân, và si còn. Và năm uẩn là chỗ trú của tham, sân, si. Như đoạn trên chúng ta thấy nghiệp thức tạo ra do hành tạo ra. Cũng vậy tham, sân và si y cứ nơi hành mà phát triển. Khi chưa chứng ngộ giải thoát, thì tham, sân, si như là con rắn độc. Nó có thể ngóc đầu lên và cắn chúng ta bất cứ lúc nào. Cho nên cẩn thận ở nơi thân hành, khẩu hành và ý hành. Nó cắn chúng ta nghĩa là nó làm cho chúng ta mất đi chánh kiến và sa vào ba đường ác. Cho nên chư tổ thường dạy quán chiếu tham, sân và si như ba con rắn độc để mà lo tu tập loại bỏ nó ra.
                                                                                               
Deilhi 25/01/2009

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét