Nghiệp, Chấp THủ, Và KHổ Đau
Khát khao hạnh phúc và giải thoát khổ đau là những vấn đề muôn thuở của
nhân loại. Từ những thao thức đó con người tạo ra vô số những trường phái, tư
tưởng, tôn giáo, triết học… khác nhau. Tuy nhiên, ngoại trừ Phật giáo, tất cả
đều không thể đưa con người đến giải thoát khổ đau và an lạc hạnh phúc. Lý do
là tất cả họ đều chưa thoát khỏi sự trói buộc của chấp thủ năm uẩn, cho nên quan điểm của họ đều bị trói buộc trong
cái nhìn hữu ngã. Họ đưa ra tư tưởng, quan điểm, lý thuyết, quy luật… để giải
thoát khổ đau nhưng chính họ lại bị kẹt vào những tư tưởng đó và còn trói buộc
và làm khổ đau vô số những người khác. Đó chính là do họ không đoạn trừ nghiệp
cũ mà còn tạo thêm nghiệp mới.
Khi mới sinh
ra, một em bé chưa hề có một ý tưởng về tự ngã của mình: chưa thể nhận ra được
khuôn mặt trong gương là chính nó, chưa biết được rằng nó chính là Tèo hay Tí…
mãi cho đến khoảng hai tuổi. Trong khoảng thời gian đó, nếu có ai kêu tên nó mà
chê bai hay phê phán thì nó cũng chẳng giận. Cũng giống như bản thân người
viết, khi mới vào học viện, tôi không có phải tên là “đại ca”, và có lẽ lúc đó
nếu có ai đó kêu cái “đại ca” mà chửi, thì tôi cũng chẳng giận hờn gì, tuy
nhiên sau vài tháng anh em trong chúng cứ thường gọi tôi bằng cái tên “đại ca”,
và cứ vậy hễ nghe gọi “đại ca” là tôi biết họ đang gọi mình, và nếu họ nói xấu
cái “đại ca” đó thì chắc là tôi buồn lắm. Như vậy nó là từ thói quen dẫn đến
chấp thủ (mình là đại ca) và bị trói buộc khổ đau. Đó là khổ đau do chấp thủ cái ta.
Chung sống
trên hành tinh này có hàng ngàn dân tộc khác nhau và mỗi dân tộc có mỗi nền văn
hoá khác nhau. Văn hoá do con người tạo ra, phản ảnh nền văn minh của mỗi dân
tộc, là thói quen (nghiệp) sinh sống của người dân trong cộng đồng đó và nó
thay đổi theo sự nhận thức của con người trong mỗi thời đại. Tuy vây, nếu nhận
thức con người không đủ sáng suốt, chấp thủ vào văn hoá, thì khổ đau sẽ sanh ra
từ đó. Chẳng hạn, một người con gái sanh ra ở Ấn độ, khi lấy chồng, cô không
còn được sống (nghiệp) với cha mẹ nữa mặc dù cha mẹ cô ấy chỉ có một người con
gái, dù cô thương cha mẹ, cô cũng không thể sống với họ để chăm sóc họ. Bản chất
của văn hoá là trống rỗng, là không, nó không hề có ý ngăn cản con gái có chồng
sống với cha mẹ mà do con người cố chấp vào văn hoá nên bị nó trói buộc. Văn
hoá không làm cho thân quyến chia lìa mà chính chấp thủ hay do không thấy được
sự trống rỗng (do duyên tạo ra) của nó nên bị chia ly. Đó là khổ đau do giới
cấm thủ.
Có lẽ ai đã
từng sang thăm Ấn độ đều cảm nhận được khổ đau do không ăn được thức ăn của
người Ấn nấu. Tuy nhiên, gần một tỉ người Ấn hàng ngày vẫn ăn thức ăn được nấu
theo cách đó. Chúng ta sinh ra ở Việt nam, quen (nghiệp) ăn thức ăn nấu theo
cách người Việt nên khẩu vị của chúng ta khác với người Ấn, do đó cảm thọ của
chúng ta về thức ăn cũng khác, vì vậy khi gặp phải thức ăn không hợp với cảm
thọ mình thì bị đau khổ. Thật ra cái cảm thọ hay thức ăn không hề làm ta đau
khổ, mà do thói quen và chấp thủ vào thói quen đó, dù cho là ta phải ăn mùi như
vậy, vị như vậy, vị như vậy mới ngon nên bị nó trói buộc. Đó là khổ do chấp thủ về cảm thọ.
Ngôn ngữ là
một phương tiện do con người tạo ra để giao tiếp và biểu lộ tình cảm. Mỗi người
sinh ra ở mỗi đất nước khác nhau sử dụng một ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ đầu
tiên được hình thành trong con người do nó được lặp đi lặp lại nhiều lần
(nghiệp) trong sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ, khi một em bé mới sinh ra chưa biết
từ “ăn” có nghĩa là gì cả, nhưng khi bộ não phát triển tương đối, và hàng ngày
bà mẹ đưa thức ăn vào miệng và nói rằng “ăn đi con”, thì từ “ăn” được hình
thành trong nhận thức của em bé, và cứ mỗi lần nói “ăn” là hiểu ngay rằng đưa
thức ăn vào miệng, nhai, và nuốt… Cứ như vậy những từ khác được hình thành
trong mỗi người. Bản chất của ngôn ngữ là vậy, nó không hề gây ra khổ đau cho
con người mà do chính nhận thức của con người làm họ khổ đau. Chẳng hạn, khi có
ai đó chỉ vào mình và nói “đồ ngu” mình tức lắm, nhưng nếu mình không hiểu
“ngu” nghĩa là gì cả thì mình không hề hấn gì cả cũng như mình chửi một người
không biết tiếng Việt vậy thôi. Đối với mình, do cứ nghĩ rằng ngu là không
thông minh, xấu, kém trí tuệ… cho nên mình bị khổ đau. Như vậy khổ đau là do
mình suy nghĩ, càng suy nghĩ nhiều càng khổ đau nhiều, vì càng suy nghĩ (suy
nghĩ về hữu ngã, không phải để đối trị với tham, sân, si) nhiều, chấp thủ hành
uẩn càng hoạt động mạnh. Đó là chấp thủ
về hành uẩn trong năm uẩn.
Như vậy, cuộc
sống là cả một dòng chảy của chấp thủ,
ngã và nghiệp. Vì khi thấy có ngã nên bắt chước, làm theo, và tạo nghiệp mà
trói buộc mình. Chẳng hạn khi thấy người khác giàu sang và sung túc, ý thức
được rằng không có cái giàu sang hay sung túc thật sự mà tất cả đều trống rỗng
thì không sanh tâm ganh ghét, cũng không đua chen, không ham muốn, không tạo
nghiệp, và vượt qua các nghiệp đã tạo nên thoát khỏi khổ đau. Ngược lại, nếu
không thấy được rằng mình là trống rỗng, mọi thứ là trống rỗng thì tự nhiên
sanh tâm đua chen, ham muốn, tạo nghiệp, không thể thoát khỏi nghiệp cũ nên
không thoát khỏi khổ đau. Muốn thoát khỏi đau khổ thì phải vượt qua biển nghiệp
bằng cách nhìn thấy chính mình và sự vật đều trống rỗng (do duyên sanh, không
thật) để không tạo nghiệp mới và loại bỏ nghiệp cũ… Muốn vậy, chúng ta phải
diệt bỏ chấp thủ ngũ uẩn. Vì nếu chúng ta nhìn thấy rằng mình là trống rỗng,
cảm thọ khó chịu đến từ lỗ tai cũng trống rỗng, chữ “ngu” cũng trống rỗng, cái
nhận thức về chữ “ngu” đó cũng trống rỗng, cái tưởng tượng người kia đang chửi
mình ngu cũng trống rỗng, và cái tư duy về chữ “ngu” đó nghĩa là xấu cũng trống
rỗng nữa thì hết khổ đau.
Ngoài ra, tại
vì chấp thủ năm uẩn tức là còn thấy sắc, thọ, tưởng, hành, và thức là ta, là
của ta, là tự ngã của ta nên sẵn sàng lên rừng xuống biển, giết người hại vật,
tạo vô số tội lỗi để bảo vệ năm uẩn này. Chúng ta thử xem cuộc đời này tất cả
những gì chúng ta làm không gì khác hơn là nuôi thân, cảm thọ, tưởng, hành, và
thức này. Chúng ta tạo nghiệp để thoả mãn ham muốn sắc, thanh, hương, vị, xúc,
và pháp. Nhiều lúc mình tưởng rằng mình đang làm cho người, nhưng nhìn cho kỹ
nó cũng chỉ là ái mà thôi. Cho nên, đời sống phạm hạnh của một người xuất gia
thời đức Phật sống hết sức đơn giản, để hạn chế tối đa sự trói buộc của năm uẩn,
sau đó mới dùng trí tuệ để đoạn trừ chấp thủ năm uẩn đó đi vào vô thủ trước
Niết bàn. Chỉ khi nào đoạn trừ được chấp thủ năm uẩn thì thân hành, khẩu hành,
và ý hành chúng ta mới không bị trói buộc bởi tham, sân, si. Năm thủ uẩn là chỗ
trú của tham, sân và si, nếu chưa loại bỏ được năm thủ uẩn mà cứ hành động là
tham, sân, và si khởi ngay.
Hơn nữa, tất
cả chúng sanh phải trôi lăn trong luân hồi sanh tử là vì chấp thủ năm uẩn, cho
rằng đây là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Do đó không thấy được sự thật của
các pháp, không hiển lộ được trí tuệ sáng suốt của mình. Do chấp thủ năm uẩn
nên sanh ra ở đâu cũng bị trói buộc bởi nghiệp cũ và do cái thấy hữu ngã nên
tạo thêm nghiệp mới rồi bị trói buộc vào đó mà bị tái sanh nơi này nơi khác,
không vượt ra khỏi sanh tử luân hồi. Đức Phật sanh ra nơi đời này để chỉ cho
chúng sanh thấy rằng tất cả chúng sanh đều có khả năng phát triển trí tuệ viên
mãn đưa đến giải thoát hoàn toàn, nhưng phải loại bỏ chấp thủ ngũ uẩn, tức là
xa rời khỏi sự trói buộc bởi cái thấy hữu ngã đối với năm uẩn trước, thì cái
thấy trí tuệ mới hiện bày.
Như được đề
cập ở trên, tất cả chúng ta sinh ra nơi đời này bên cạnh nghiệp riêng từ trước,
chúng ta lại huân tập thêm nghiệp chung bởi thế giới này, đó là văn hoá, phong
tục, thói quen, ngôn ngữ, địa lý, thiên nhiên… cho nên để có được một cái thấy
khách quan còn khó huống nữa là cái thấy trí tuệ. Ví dụ, một người sinh ra ở
Huế, bị ảnh hưởng bởi địa hình; núi cao, sông sâu, đất đai cằn cỗi… bởi thời
tiết khắc nghiệt: mưa, lạnh, nóng bức… rồi bởi văn hoá phong kiến… cho nên họ
thích lặng lẽ, tao nhã, cung cách, khắc khổ… do đó khi nhìn người nào như vậy
thì họ cho là tốt, có tu… Tuy nhiên, sự thật không phải vậy, có những người
không như vậy nhưng họ tu tập rất tốt. Quả thật, chúng ta đi đâu cũng mang cả
nghiệp chung và nghiệp riêng của mình để nhìn cuộc đời, mà nhìn như vậy thì
không bao giờ là khách quan cả nói chi đến cái nhìn trí tuệ. Vì vậy, một người
có chánh kiến đừng vội đánh giá người khác, mà phải nhìn lại mình xem còn bị
kẹt vào chỗ nào không.
Phật là đấng
toàn giác, ngài thấy rõ nguồn gốc mà từ đó chúng sanh bị trói buộc, nên ngài đã
chỉ rõ còn đường giải thoát đó là Giới, Định, và Tuệ. Tại sao phải là Giới,
Định, và Tuệ, mà không phải là con đường khác? Vì chúng sanh từ vô thỉ kiếp, do
vô minh che lấp, bị trói buộc bởi năm uẩn, nên đã tạo vô số hành nghiệp. Cho
nên muốn giải thoát, trước hết phải giữ giới để ngưng tạo thêm nghiệp mới, sau
đó tu tập định Tứ Niệm Xứ để trừ diệt nghiệp cũ, và cuối cùng dùng gươm trí tuệ
của thiền quán để cắt đứt vô minh mà được giải thoát. Đó là con đường duy nhất,
mà tất cả chúng sanh nào mới vào đạo, muốn giải thoát giác ngộ đều phải đi
xuyên suốt cả ba chặng. Tuy nhiên, nếu ai đã thành tựu giới uẩn rồi thì có thể
đi thẳng vào Định, và nếu thành tựu Định rồi thì có thể hành Tuệ. Tuệ ở đây
chính là con đường đốn ngộ của Lục tổ Huệ Năng. Hành trì Giới và Định chính là
con đường tiệm ngộ của ngài Thần Tú. Chúng ta phân chia có tiệm có đốn vì căn
cơ chúng sanh có thấp có cao, có người tu tập giới và định thanh tịnh từ nhiều
đời rồi nên giờ này chỉ cần một câu khai ngộ là sáng ngay, còn chúng ta nghiệp
chướng còn dày thì lo giữ giới và tham thiền để mong ngày liễu ngộ.
Quả thật, có
thân ngũ uẩn này là khổ vô cùng. Người ta cứ tưởng rằng đời sống vật chất ngày
càng cao thì con người càng bớt khổ đau. Tuy nhiên, nó càng khổ đau hơn nữa.
Tại sao vậy? Con người có hai phần tâm lý và vật lý gọi là danh và sắc. Tuy
nhiên sắc thì chỉ có một mà danh thì có tới bốn (thọ, tưởng, hành, thức) vì vậy
cái khổ về thân vật lý thì chỉ có một mà cái khổ về tâm lý có tới bốn. Do đó,
mặc dù với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật con người bớt đi đau khổ vật lý rất
nhiều ngược lại đau khổ tâm lý lại tăng gấp bội; nhiều người mắc các chứng bệnh
tâm lý như trầm cảm, rối loạn thần kinh, mad… Có thể đây là một vấn đề mà các
nhà khoa học, tâm lý học, bác sĩ… đang rất quan tâm.
Căn cứ trên
tư tưởng Phật giáo, khổ đau tâm lý phát xuất từ thọ, tưởng, hành, và thức. Khi
khoa học và kỹ thuật phát triển, con người không phải làm việc chân tay nhiều
nghĩa là khổ đau về vật lý được giảm, tuy nhiên khi chuyển sang làm việc trí óc
thì bốn bộ phận tâm lý làm việc mạnh hơn, tư duy nhiều hơn do đó bị khổ đau về
tâm lý nhiều hơn.
Hơn nữa, bốn
hành uẩn thuộc về tâm lý này làm việc do sự xúi giục của tham dục, sân và si.
Vì vậy, còn làm phàm phu thì tham, sân và si làm việc rất mạnh và do đời sống
vật chất dồi dào nên tâm lý tham càng mạnh mà tham mạnh thì si cũng mạnh. Tuy
nhiên, các pháp hữu vi là vô thường, ngắn ngủi, không thật, nên con người tìm
cầu bao nhiêu thì lại thất vọng bấy nhiêu, thì khổ đau bấy nhiêu.
Với những
điều kiện kỹ thuật hiện đại, giờ làm việc được giảm, tuy nhiên do tâm lý còn
tham, sân, và si nên không thể nghỉ ngơi được. Có nhiều thời gian nghỉ ngơi mà
không biết tận dụng để diệt trừ tham, sân, và si ngược lại đi tìm cảm thọ nơi
này nơi khác, tạo thêm nghiệp khổ làm mồi cho tham, sân và si tăng trưởng. Do
đó, thời gian rảnh trở lại là cái hại làm cho con người thêm đau khổ.
Mũi tên độc
đang cắm sâu trong tâm thức chúng ta chính là tham, sân, si. Cho nên chúng ta
phải làm sao để loại bỏ tham, sân, si là điều cốt lõi nhất. Nếu chưa loại bỏ tham,
sân, si tất cả những tư duy đều rơi vào hữu ngã là mồi của tham, sân, si cả. Có
nhiều lúc mình tư duy những điều trừu tượng vượt ngoài phạm vi suy nghĩ, mình
nghĩ nó là không do tham, sân, si làm chủ nhưng thật ra có tham, sân, si trong
đó. Vì sao? Vì nếu không có si thì ta
thấy rõ rồi không cần phải tư duy gì nữa, và dù đó là tư duy cái gì đi nữa
mà không phải để đối trị tham, sân, si thì tư duy đó cũng là tham: tham kiến
thức, tham hiểu biết, bị rơi vào hữu ngã ngay, tà kiến ngay. Cho nên người có
trí cần phải cẩn thận, đừng quá tự tin vào cái thấy của mình để rồi rơi vào ma
nạn.
Con người hơn
động vật ở chỗ là có khả năng tư duy để vượt ra ngoài tham, sân, si. Chúng ta
có thể thấy một con khỉ, nó luôn suy nghĩ, nhưng đối tượng của nó không gì hơn
là thức ăn, đối tượng của dục, kẻ thù và sở hữu của nó. Mặc dù con khỉ nó cũng
có tình cảm nhưng nó chỉ là một sự chấp thủ cho rằng đây là con ta và nó bị
sanh là con khỉ là vì đời trước của nó tham, sân, và si quá nặng đến nỗi che
lấp mất trí tuệ, thiện pháp, từ bi… Chúng ta được làm người đó là vì tham, sân,
si trong chúng ta không quá lớn đến nỗi không thể thấy được thiện pháp, chúng
ta cũng có lòng từ bi, do đó chúng ta có khả năng tư duy để nuôi dưỡng từ bi và
trí tuệ. Nếu chúng ta không biết tư duy để loại bỏ tham, sân, si thì chúng ta
cũng đồng với con khỉ hay có thể bị sanh làm khỉ trong tương lai.
Như vậy, cái
hại của những khoa học hiện đại, phát triển nhờ trí tuệ hữu ngã chỉ làm cho con
người thêm khổ đau. Đức Phật là bậc Giác ngộ, ngài với trí tuệ vô ngã, ngài
biết tất cả nhưng ngài không nói, chứ không phải là ngài không biết. Chúng ta
lậu hoặc chưa đoạn, vô minh còn dày, không khéo cân nhắc mà càng làm thì càng
tạo thêm tội lỗi và đau khổ cho mình và chúng sanh mà thôi.
Hơn nữa, do
nghiệp trói buộc nhiều đời nên chúng ta cứ ham mê trong cảm thọ (thọ trong ngũ
uẩn), chúng ta cứ tưởng là sống mà không có cảm thọ thì không thể sống nổi,
thật ra sống trong cảm thọ làm cho con người ta ngu đi, không có trí tuệ. Vì
cảm thọ là vô thường, trống rỗng, không thật nên càng sống trong cảm thọ con
người càng khổ đau, ảm đạm, và u ám lắm cho nên chỉ có trí tuệ mới giúp ta vượt
qua khỏi đau khổ và vui vẻ thật sự.
Ngoài ra, mục
đích tu tập để đạt đến giải thoát tối hậu là phải đoạn trừ năm thủ uẩn, do đó
trong khi tham, sân, si còn đó và năm thủ uẩn vẫn vận hành liên tục thì cần hết
sức cẩn thận, cố gắng đừng cho năm uẩn hoạt động, tức là mình chặn nó ngay ở
nơi hành - chi thứ hai trong mười
hai chi nhân duyên. Mặc dù có những người chủ trương đoạn ái, có người chủ
trương đoạn thủ, có người chủ trương đoạn thức, đoạn thọ… trong giáo pháp của
Đức Phật dạy chúng ta thực tập tất cả, nghĩa là gặp trường hợp nào thì dùng
liệu pháp ấy đừng chờ thấy ái khởi mới đoạn, hay chỉ đoạn thủ không thôi còn để
ái chảy thì sai lầm cả. Vì sao vậy, có khi cái ái vi tế quá chúng ta không thể
thấy được, chúng ta cứ tưởng nó là không phải ái, cho nên trong trường hợp này
mình phải để ý ở hành (thân hành, khẩu hành, và ý hành) mà đoạn, nghĩa là mình
nên nghĩ rằng mình chưa chứng đắc Alahán nên chắc chắn tư duy và hành động của
mình không tránh khỏi sự chi phối của tham, sân, si cho nên chúng ta phải đoạn
hành, tức là ngưng tác ý; có khi căn cơ mình còn thấp kém không đủ chánh niệm
tỉnh giác, định chưa sâu thì không thể thấy được hành ở trong tâm, thì mình nên
đoạn ngay nơi xúc, vì xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, thì tham dục khởi lên
mất công tìm kiếm để đoạn trong tâm mệt; có những cái ái nó cao thượng lắm mà
mình cứ tưởng nó là đúng pháp nên vẫn bị nó trói buộc không biết làm sao để
đoạn nó, vì vậy mình nên đoạn ở thủ… Hành giả phải luôn luôn tỉnh giác, quán
chiếu khổ, vô thường, và duyên khởi, áp dụng vào tất cả các trường hợp, tất cả
các chi phần, tất cả các pháp, để khỏi bị tam độc lừa bịp. Như vậy, mình có
nhiều kinh nghiệm tu tập sau này có thể hướng dẫn người khác, và do đó dù tam
độc nằm ở bất cứ ở ngõ ngách nào, xó xỉnh nào ta cũng tìm thấy để trừ diệt nó.
Bao nhiêu năm
qua khổ đau vây bủa mà không biết, không hay, chúng tôi cứ chạy lòng vòng hết
chỗ này đến chỗ khác để trốn, đến khi không thể trốn được nên phải nhìn vào nó
mới thấy được chân tướng của nó (phát sanh từ chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành,
và thức). Có lẽ nó rất là khó hiểu, nhưng chắc là người đã từng trải khổ đau
nhiều rồi sẽ thấy rất dễ. Vì dù nói nhiều, nhưng cái cốt lõi vẫn là Tứ Diệu Đế.
Nếu thấy được sự thật về khổ thì sẽ thấy được nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ,
và con đường đưa đến sự diệt khổ. Khổ, vui, hay không khổ không vui đều thuộc
về cảm thọ (thọ uẩn trong ngũ uẩn) mà cảm thọ sanh ra do bốn uẩn còn lại đó là
sắc, tưởng, hành, và thức. Mà bốn uẩn này thay đổi liên tục, đặc biệt là tưởng,
hành (thân hành, khẩu hành, và ý hành), và thức cho nên chúng sanh cũng khổ vui
liên tục. Tất cả những khổ vui đó là do tưởng (tưởng về chuyện vui thì cảm thọ
vui, tưởng về chuyện buồn thì cảm thấy buồn) mà có, do hành (đặc biệt là tâm
hành, tư duy về điều vui thì cảm thọ vui mà tư duy về chuyện khổ thì cảm thọ khổ)
mà có, và do thức (nhận thức tích cực thì thấy vui, nhận thức tiêu cực thì
buồn). Trong mười hai nhân duyên, thọ (sầu, bi, khổ, ưu, não) thuộc chi thứ bảy
sanh ra do xúc - chi thứ 6, xúc do sáu căn tiếp xúc sáu trần - lục nhập (trong
lục nhập, ý căn rất quan trọng, đối tượng của nó là hình bóng của thọ, tưởng,
hành, và thức, tức là mình tưởng lại cái thọ, cái tưởng, cái hành, và cái thức
của mình). Cho nên gọi chấp thủ năm uẩn là khổ. Khi nào thấy phiền muộn mình
ngồi lặng lại nhìn kỹ vào tâm mình xem khổ ở đâu sẽ thấy được sự vận hành của
nó. Đừng chạy trốn khổ đau bằng cách xem ti vi, đọc sách, mua sắm, quán bar,
sàn nhảy… vì đó chỉ là cách để trốn khổ đau thôi mà không phải đoạn trừ khổ
đau. Khi nào thấy được sự khổ đau đang vận hành trong năm uẩn là thấy pháp. Và
phải thấy như vậy mới hi vọng hết khổ đau, còn không thì khổ đau muôn kiếp.
Chúng ta biết
rằng tất cả các pháp đều do duyên sanh, do duyên mà tồn tại, và do duyên mà
hoại diệt. Không có một pháp nào tự nó tồn tại một mình cả. Vì chúng ta không
thấy được tính duyên khởi của nó nên chấp thủ, ích kỷ (chi hữu trong mười hai
chi nhân duyên), và khổ đau. Để làm sáng tỏ thêm ý tưởng này, xin lấy ví dụ có
một người rất thương mình, cho mình một món quà và mình rất cảm động về món quà
đó vì mình luôn luôn nghĩ rằng món quà đó là do người đó tặng và vì thương mình
nên người đó mới tặng món quà đó cho mình. Vì cứ nghĩ rằng có một người thật
sự, một món quà thật sự, một cái mình thật sự và một tình cảm thật sự riêng
biệt nào đó nên mình bị trói buộc, rung động, và khổ đau. Tuy nhiên, nếu mình
nghĩ rằng không có một người đó độc lập mà cả vũ trụ này cùng có trong người
đó, không có một món quà độc lập mà nhiều yếu tố khác nữa như người gói quà,
người làm quà, người mang quà… cái tình cảm, và cả cái mình này cũng vậy. Nếu
mình biết nghĩ như vậy thì mình không chỉ thương một người cho quà thôi mà
thương cả cha mẹ người cho quà, cả quê hương xứ sở của người cho quà, người
công nhân làm ra món quà, người làm thuê vận chuyển quà… Biết suy nghĩ như vậy
thì tâm mình bao dung hơn, rộng lớn hơn mà không bị trói buộc bởi một tình cảm
nhỏ nhen thấp hèn nào. Đối với người chửi ta, mắng ta cũng vậy, không có một
người độc lập đang chửi ta mà cả một quần thể gồm nhiều yếu tố và ta cũng nằm
trong quần thể đó. Nên không có gì giận dữ cả. Và đó là sự thật tuy nhiên chúng
ta vì tham, sân, và si che lấp không thấy được nên bị chấp thủ trói buộc và khổ
đau mãi.
Tất cả khổ
đau và hạnh phúc đều thuộc về cảm thọ mà cảm thọ đến từ sắc, tưởng, hành và
thức. Sắc gồm có nội sắc và ngoại sắc. Khi tác ý có một sắc nào đó đẹp là mình
khởi lên cảm thọ hỷ ngay hoặc sắc xấu là mình thấy bực bội. Khi mình nghĩ về
một lời nói, hành động, hay ý nghĩ nào đó của chính mình hay của người khác,
mình cũng sanh hân hoan hay bực bội. Rồi mình lại tưởng về một sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp nào đó khả ý, khả lạc mình cũng cảm thấy hân hoan và dục
vọng sanh. Mình cũng có khi tưởng về một cái nhận thức, tư duy, hành động, lời
nói nào đó liên hệ tới đối tượng dục vọng mình cũng sanh hân hoan. Tuy nhiên
tất cả những cái làm sanh khởi cảm thọ đó đều biến đi nhanh chóng, hoại diệt,
và duyên khởi. Cho nên cảm thọ cũng trôi đi nhanh chóng. Vì vậy tất cả năm uẩn
đều tạm bợ và vô thường, không đáng để cho chúng ta phải bị trói buộc.
Tất cả những
hân hoan hay gọi là hạnh phúc đến từ cảm thọ đều là không thật, không phải là
hạnh phúc thực sự mà hạnh phúc thật sự chỉ có khi nào cảm thọ hoàn toàn vắng
mặt tức là năm thủ uẩn hoàn toàn bị loại bỏ. Trong kinh Tiểu không (Trung bộ),
thậm chí Đức Phật nhập Vô tướng tâm định, chỉ có lâm tưởng, tâm vẫn còn bị
phiền muộn duy nhất bởi lâm tưởng đó gây ra. Cho nên khổ đau chỉ hoàn toàn vắng
mặt khi chúng ta chứng nhập diệt thọ tưởng định. Đó chính là chứng đắc vô thủ trước Niết bàn.
Theo duy vật
biện chứng của Angel, tất cả mọi vật luôn vận động và biến đổi đi lên, và
nghiệp thức của chúng ta cũng vậy luôn vận động biến đổi đi lên, bắt đầu từ vô
minh và cuối cùng là minh tức là giác ngộ giải thoát, bắt đầu là một vô tình
đầy những vô minh rồi cuối cùng là “một hữu tình không còn bị si chi phối”. Tất
cả mọi chúng sanh đều khát khao hạnh phúc và né tránh khổ đau (Socraste and
Aristotle). Vì vậy, khi ở trong khổ đau thì tự nhiên họ tìm cách ra khỏi khổ
đau, và cách để ra khỏi khổ đau của mỗi người, mỗi loài mỗi khác tuỳ theo mức
độ trí tuệ của họ, nhưng chỉ có Trí tuệ
Bát nhã mới cắt đứt được hoàn toàn khổ đau, chúng ta thấy rằng trí tuệ con
người hiện đại rất vĩ đại - họ biết được quy luật vô thường, duyên sinh,
(Symbolyc interactionism of Mead, Dialectism of Angel, interdependent of Lewin…)
nhưng vẫn bị trói buộc bởi cái thấy đó nên cứ lòng vòng trong tam giới mà thôi
vì họ không biết vận dụng những cái thấy đó để ra khỏi tham, sân, và si để giải
quyết khổ đau.
Mặc dù rồi
cuối cùng ai cũng ra khỏi khổ đau và thành tựu chánh giác tuy nhiên muốn đạt
được vô thượng chánh giác thì cần phải thực hành Bát thánh đạo, hay giới -
định - tuệ. Đó là con đường duy nhất ra khỏi khổ đau. Và con đường Bát
thánh đạo hay giới định tuệ chỉ có Phật mới chỉ được, và chỉ có trí tuệ của Bậc
giác ngộ tuyệt đối mới thấy một cách thông suốt cả pháp giới, không bị kẹt vào
cái thấy đó, và vận dụng một cách khéo léo cái thấy đó để giúp chúng sanh thoát
khỏi khổ đau (Pháp được Như Lai khéo thuyết giảng). Đó là lý do tại sao trong
truyền thống cứ một thời gian thì phải có một vị Phật ra đời.
Mặc dù vô số
chúng sanh hiện nay đang trôi lăn trong sanh tử luân hồi, tâm đầy tà kiến và
tham dục nhưng trong họ vẫn có một sự khát khao hạnh phúc vì khát khao hạnh
phúc đó thúc đẩy nên họ tìm cách này hay cách khác để giải thoát khổ đau. Hơn
nữa, trong pháp giới trùng trùng duyên khởi này tất cả chúng sanh đều có liên
hệ với nhau không ít thì nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp và do sự vận động
của pháp giới nên từ duyên ít dẫn đến duyên nhiều, từ duyên gián tiếp dẫn đến
duyên trực tiếp và như vậy rồi cuối cùng ai cũng được gặp Phật pháp để chứng
ngộ giải thoát. Như trong kinh Hàng Ma (Trung Bộ 3), ngài Mục Kiền Liên nói
rằng ngài đã từng là thiên ma nhiễu hại tăng chúng và Phật trong quá khứ nên bị
đoạ xuống địa ngục vô gián, nhưng ta thấy rồi cuối cùng ngài cũng giải thoát
giác ngộ.
Mặc dù biết
rằng rồi cuối cùng chúng ta cũng giải thoát giác ngộ nhưng nếu bỏ lỡ cơ hội lần
này thì uổng lắm và không biết bao nhiêu kiếp nữa mới gặp lại Phật pháp để được
giải thoát giác ngộ. Đức Phật ví dụ được thân người như khúc gỗ mục trăm năm
trôi xuống biển một lần, có con rùa trăm năm trồi lên mặt biển một lần, để gặp
được khúc gỗ mục mà chui vào thì biết khó chừng nào. Cơ hội chúng ta gặp được
Phật pháp ngày nay còn khó hơn con rùa gặp được khúc gỗ mục, nếu không chui vô
thì đợi biết bao giờ mới gặp được Phật pháp trở lại.
Đức Phật
thường dạy tất cả các pháp hữu vi là vô thường, trống rỗng, không thật, khổ
đau. Tại sao vậy? Vì tất cả các pháp hữu vi là do duyên sinh, luôn luôn biến
đổi cho nên chúng là không thật, trống rỗng. Vì nó luôn luôn biến đổi nên chúng
ta không thể bắt nó được, không thể nắm nó được vì vậy nó cũng có nghĩa là
trống rỗng. Vì chúng ta không thể bắt nó được và không thể nắm nó được mà cố
nắm nó thì sẽ bị nó làm cho khổ đau.
Trong cuộc
sống hiện đại, với sự biến đổi liên tục của khoa học kỹ thuật và kinh tế thị
trường chúng ta dễ dàng thấy được điều này. Ví dụ, mình thích một máy vi tính
hiện đại nhất, mới mua một cái máy hiện đại nhất và mình tự hào về nó lắm nhưng
vừa mới trở về nhà xem tivi là đã thấy xuất hiện một cái máy mới hơn vậy nữa,
do đó niềm tự hào về cái máy mới nhất bị biến mất, cảm thấy hối tiếc và khổ đau
nữa.
Chưa chứng
được vô thủ trước Niết bàn tức là tham, sân, và si còn. Và năm uẩn là chỗ trú
của tham, sân, si. Như đoạn trên chúng ta thấy nghiệp thức tạo ra do hành tạo
ra. Cũng vậy tham, sân và si y cứ nơi hành mà phát triển. Khi chưa chứng ngộ
giải thoát, thì tham, sân, si như là con rắn độc. Nó có thể ngóc đầu lên và cắn
chúng ta bất cứ lúc nào. Cho nên cẩn
thận ở nơi thân hành, khẩu hành và ý hành. Nó cắn chúng ta nghĩa là nó làm
cho chúng ta mất đi chánh kiến và sa vào ba đường ác. Cho nên chư tổ thường dạy
quán chiếu tham, sân và si như ba con rắn độc để mà lo tu tập loại bỏ nó ra.
Deilhi 25/01/2009
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét