Ví như một con bò bị cột ở một gốc cây, nó chỉ có thể đi lòng vòng
quanh gốc cây đó mà không thể đi xa hơn được. Cũng vậy, chúng sanh bị vô minh
che lấp tham ái trói buộc, phải chịu sự sanh tử luân hồi trong ba cõi không có
dừng nghỉ: khi thì ở dục giới, lúc lại sanh sắc giới, hay vô sắc giới, cứ đi
lòng vòng trong sáu nẻo mà không thể vượt qua: khi thì được sanh lên thiên
giới, khi thì vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, lúc lại được làm người. Tương tự
như một gốc cây được quăng lên khi thì rơi xuống đầu ngọn, khi thì rơi xuống
đầu gốc. Cho nên đức Phật day: “Vô thỉ là
luân hồi, này các Tỷ kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với chúng sanh bị vô
minh che lấp, tham ái trói buộc. Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ kheo, các
ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày
một lớn lên. Cho đến như vậy, này các Tỷ kheo, là vừa đủ để các ông từ bỏ, là
vừa đủ để các ông giải thoát đối với tất cả hành” (Kinh tương ưng bộ II,
trang 310).
Tất cả mọi sự
vật hiện tượng trên thế giới này đều do tạo tác mà có cho nên gọi là “tất cả
hành”, nghĩa là do hành động ở nơi thân, khẩu, ý mà chúng được hình thành. Vì
vậy tất cả pháp đó đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác mà thành (đó là ý của
duyên sanh) nên không bao giờ là thường hằng, không bao giờ là thường còn, bất
biến cả, mà đều phải chịu sự biến hoại, bị hoại diệt, bị chấm dứt… Tuy nhiên,
chúng sanh do vô minh che lấp, không thấy được sự thật này, nên tham đắm, chấp
thủ, muốn nắm giữ cho riêng mình. Do tham ái và chấp thủ mà chúng sanh bị trói,
bị cột lại trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành và thức). Và khi năm uẩn này
biến hoại thì chúng sanh bị đau khổ, thống khổ, bị tai họa, sầu, bi, khổ, ưu,
não. Quả thật vậy, chỉ trong một đời này thôi nước mắt chúng ta chảy ra do mất
người thân, mất của cải vật chất, tiền bạc, bị đánh đập, chửi rủa… cũng đã
nhiều rồi. Tuy vậy, có mấy ai nhìn thấy được nỗi khổ này. Vì không thấy khổ nên không thể
thoát khỏi khổ!
Trong muôn
vàn nỗi khổ, phải bị sanh tử luân hồi là
cội gốc nơi phát sinh bao nhiêu tai họa. Vì có tái sinh nên phải bị già và
chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Vậy do nguyên nhân gì đưa đến tái sanh? Chính do
nghiệp: “chúng sanh là chủ của nghiệp, là
thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy
hướng của nghiệp, phàm nghiệp gì ta làm thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”
(Kinh Tăng Chi Bộ IV, trang 357). Do vô minh che lấp tham ái trói buộc nên
chúng sanh tạo ác nghiệp ở nơi thân, miệng, và ý như sát sanh, lấy của không
cho, tà hạnh trong các dục, nói dối… sau khi thân hoại mạng chung bị đọa xứ địa
ngục, ngạ quỷ, hay bàng sanh. Còn chúng sanh nào tạo thiện nghiệp như từ bỏ sát
sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục… thì được sanh lên
thiện thú thiên giới hay cõi đời này.
Nghiệp và tái
sanh là một quy luật nhân bản rất thiết yếu. Tuy nhiên nó cũng rất phức tạp và
chỉ có Phật, bậc A-la-hán Chánh đẳng giác, với trí tuệ thể nhập pháp giới mới
có thể thông suốt được. Lý do là từ nghiệp đưa đến tái sanh còn có sự tác động
cuả nhiều duyên khác: ví như hạt lúa muốn mọc thành cây lúa cần phải có đất,
nước, ánh sáng mặt trời, phân bón…
Đức Phật giải
thích về nghiệp có mười hai loại, được sắp xếp thành ba nhóm:
Nhóm 1: Căn cứ vào thời gian chín muồi của nghiệp có bốn loại: Hiện báo nghiệp, hậu
báo nghiệp, lai báo nghiệp, và hoại nghiệp.
Nhóm 2: Căn cứ vào tính chất của nghiệp có bốn loại: Cực trọng nghiệp, tập khí nghiệp,
cận tử nghiệp, và kết nghiệp.
Nhóm 3: Căn cứ vào chức năng của nghiệp có bốn loại: sanh nghiệp, trì nghiệp, chướng
nghiệp, và đoạn nghiệp.
1. Hiện báo nghiệp là
những hành động có tác ý đưa đến quả ngay trong đời này. Ví dụ một tội nhân
giết người bị bỏ tù, bị tử hình, bị xã hội khinh rẻ… đó là hiện báo của nghiệp
giết người.
2. Hậu báo nghiệp là
những hành nghiệp do chúng sanh tạo ra và mang lại kết quả ở đời sau như lấy
của không cho sau khi chết bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh hoặc được
làm người trong cảnh nghèo nàn thiếu thốn, làm gì cũng thất bại, thua lỗ.
3. Lai báo nghiệp là
nghiệp đem lại ở những đời sau nữa như có người hiện đời làm nhiều thiện nghiệp
nhưng do một ác nghiệp nào đó họ phải rơi vào địa ngục ở đời sau và đời sau nữa
họ mới được sanh làm trời, làm người.
4. Hoại nghiệp là
những nghiệp nhỏ không đáng kể nên không thể đưa đến quả báo ví như có người
suốt đời thực hành thiện nghiệp nhưng vô tình hay cố ý đã làm hại một vài sinh
mạng nhỏ, nhưng ác nghiệp nhỏ này bị diệt đi không thể đưa đến quả khổ, cũng
như một nắm muối đổ xuống sông không thể làm nước sông trở thành mặn.
5. Trọng nghiệp là
những nghiệp nặng và sẽ tạo quả ngay đời này hoặc đời sau, chẳng hạn giết cha,
giết mẹ, làm thân Phật chảy máu, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng.
6. Tập khí nghiệp là
những hành động có tác ý được thực hiện thường xuyên, lặp đi lặp lại nhiều lần
như người đồ tể chuyên giết heo, bò, người chuyên lừa đảo trộm cắp.
7. Cận tử nghiệp là
nghiệp được hình thành vào giờ phút trước khi chấm dứt mạng sống này, thông
thường là do suy nghĩ hay nhớ lại một hành động thiện ác nào đó đã làm trong
quá khứ mà sanh tâm hân hoan hay giận dữ, hoặc do chấp thủ một định kiến nào
đó. Ví như có người suốt đời làm các việc thiện nhưng trước lúc chết lại chấp
thủ một tà kiến hay một ác nghiệp nào đó liền bị sanh vào ác thú địa ngục, hay
có người suốt đời làm nhiều việc ác nhưng trước lúc lâm chung lại nhớ về một
việc thiện nào đó sanh tâm hoan hỷ liền được sanh lên thiện thú thiên giới (Kinh
Trung bộ III, Kinh đại nghiệp phân biệt, số 136).
8. Kết nghiệp là
những nghiệp thiện hay ác được tạo trong những đời trước thực hiện chức năng
đưa đến tái sanh khi ba nghiệp trên không còn nữa. Kết nghiệp thường là lai
nghiệp. Ví dụ có người ở đời vừa làm thiện nghiệp vừa làm ác nghiệp, sau khi
chết họ đọa địa ngục do quả của ác nghiệp tuy nhiên sau khi hết thọ báo ở địa
ngục, nhờ vào thiện nghiệp đời trước họ được sanh thiên giới.
9. Sanh nghiệp là
những nghiệp có chức năng đưa đến tái sanh trong tương lai, hay đưa đến một đời
sống mới, một thân mới. Sanh nghiệp có thể là thiện hay ác. Nếu sanh nghiệp là
thiện sẽ đưa đến tái sanh ở một cảnh giới an lành, ngược lại nếu sanh nghiệp là
bất thiện sẽ đưa đến đọa xứ ác thú.
10. Trì nghiệp là
những nghiệp có chức năng hỗ trợ cho quả của sanh nghiệp. Trì nghiệp cũng có
thể là thiện hay bất thiện, trì nghiệp là thiện sẽ hỗ trợ cho quả của sanh
nghiệp thiện và nếu là ác sẽ hỗ trợ cho sanh nghiệp bất thiện. Ví dụ, nếu do
sanh nghiệp thiện một chúng sanh được làm người thì trì nghiệp thiện sẽ giúp
cho người đó sống lâu, ít bệnh, giàu có… Nếu do sanh nghiệp ác, một chúng sanh
bị đọa ngạ quỷ trì nghiệp bất thiện sẽ khiến người đó phải chịu đói, khát, bị
hành hạ đánh đập…
11. Chướng nghiệp
cũng có thể là thiện nghiệp hay ác nghiệp và có chức năng làm trở ngại cho sanh
nghiệp. Ví dụ, nếu do sanh nghiệp thiện một chúng sanh bị tái sanh làm người
thì chướng nghiệp bất thiện sẽ khiến chúng sanh đó khổ đau, nghèo đói, bệnh
hoạn… Nếu do sanh nghiệp bất thiện một chúng sanh được sanh vào loài súc sanh
nhưng nhờ những chướng nghiệp thiện chúng sanh đó lại được ăn uống đầy đủ, có
người chăm sóc.
12. Đoạn nghiệp có
thể là thiện hoặc bất thiện, có chức năng ngăn chặn và chấm dứt nghiệp yếu hơn
để cho những nghiệp khác tạo quả hay tạo quả bởi chính nó. Đoạn nghiệp ví như
một mũi tên bắn trúng một con chim đang bay trên bầu trời và làm cho nó rơi
xuống. Ví dụ, do một sanh nghiệp thiện nào đó một chúng sanh được sanh làm
người nhưng chưa hết thọ mạng thì một ác nghiệp nào đó chín muồi và làm cho
người đó chết ở tuổi trung niên.
Theo
Abhidhamma, tiến trình tâm lý xảy ra rất nhanh, gấp nhiều lần so với vật lý. Do
đó sự tái sanh xảy ra liền sau cái chết của một chúng sanh và không
có bất kỳ một trạng thái trung gian nào cả như thân “trung ấm” mà một số kinh
sách ngoại giáo thường gọi. Tuy nhiên, một số người lại tin rằng sau
khi chết con người sẽ tiến triển sang một dạng ma quỷ trong một thời gian nhất
định nào đó trước khi tái sanh diễn ra.
Thật ra, những hồn ma đó là những ngạ quỷ (peta) hay những vị quỷ thần thấp kém
thuộc về cõi trời Bốn đại thiên vương vừa được tái sanh, đời sống này của họ
dưới hình thức ngạ quỷ dù không lâu dài, đó
cũng là một hình thức tái sanh.
Khi người sắp
lâm chung có ba loại tâm (thức,
vinnãna) làm nhiệm vụ vào sát na tử: thức (1) tục sanh (patisandhi citta), dòng tâm thụ động hay dòng thức (2) hữu phần (bhavanga-citta), và (3) tử tâm
hay thức tách rời kiếp sống hiện tại (cuti-citta). Vào sát na cuối cùng của
kiếp hiện tại, tử tâm khởi lên, lấy một trong ba tướng
(nghiệp, nghiệp tướng, hay thú tướng)[1]
làm đối tượng của nó, tách rời kiếp hiện tại và chìm vào hữu phần. Ngay sát na (tử
tâm) này kiếp hiện tại chấm dứt. Cuối sát na hữu phần ấy, tâm tục sanh
khác sinh lên để bắt đầu cho một kiếp sống mới (Chánh kiến và nghiệp, trang
108).
Như vậy,
trong tiến trình tái sinh, cận tử nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Vì lý do đó vào thời Phật còn tại thế, ngài và các vị đại đệ tử thường thăm
viếng và giảng cho những người Phật tử sắp qua đời nhằm tạo cho họ một cận tử
nghiệp tốt lành. Ví dụ bấy giờ đức Thế Tôn đang trú ở Sàvatthi, tại Kỳ Viên, trong
tinh xá ông Cấp Cô Ðộc. Thời ấy tại Ràjagaha có một nữ nhân đang mang thai, rửa
sạch mè và phơi khô vì bà muốn uống một ít dầu mè.
Thọ mạng của
bà sắp chấm dứt, và bà có số phận phải chết ngay hôm ấy với các hạnh nghiệp
chồng chất đưa đến tái sanh vào địa ngục.
Bấy giờ, đức
Thế Tôn, trong khi quán sát thế gian vào lúc rạng đông, với Thiên nhãn Ngài
thấy bà và suy nghĩ: “Nữ nhân này sắp chết hôm nay có thể tái sanh vào địa
ngục. Vậy bây giờ Ta hãy làm cho bà ấy tái sanh thiên giới bằng cách nhận mè do
bà ấy bố thí”.
Chỉ trong
chốc lát, Ngài đi từ Sàvatthi đến Ràjagaha, và trong khi Ngài đi
khất thực ngang qua thành Ràjagaha,
Ngài đến cửa nhà bà. Nữ nhân ấy thấy đức Thế Tôn, lòng tràn ngập hân hoan hạnh
phúc, vội đứng lên chắp hai tay, và thấy không có gì khác xứng đáng để cúng
dường, bà rửa tay chân và lùa mè lại thành một đống, bà bụm cả hai tay lại, bốc
đầy mè và đặt nắm mè vào bình bát đức Thế Tôn. Do lòng từ mẫn đối với bà, đức
Thế Tôn bảo: “Mong con được an lạc”, rồi tiếp tục lên đường.
Ðêm ấy, lúc
gần rạng đông, bà kia từ trần và được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong
một Lâu đài bằng vàng rộng mười hai do-tuần. (Kinh tiểu bộ II, Thiên cung sự,
chuyện thứ 10).
Do đó theo
truyền thống của đạo Phật, hỗ trợ người sắp lâm chung là rất quan trọng, nhằm
tạo cho họ một cận tử nghiệp tốt. Vì rằng tất cả tư niệm, tư lương, tư duy,
thầm ý của chúng sanh đều dựa vào một đối tượng nào đó để tồn tại và hầu hết
con người chưa có sự tu tập nhuần nhuyễn về chánh tư duy thì những suy nghĩ của
họ đều chịu sự tác động của môi trường: nếu môi trường mang lại cho họ một đối
tượng khả ý thì những suy nghĩ của họ dựa trên đối tượng đó khiến họ vui vẻ,
nhưng nếu đối tượng là không khả ý thì những suy nghĩ sanh lên khiến cho họ
giận hờn, bất an, và thậm chí khổ đau. Do đó, hỗ trợ người sắp lâm chung là
giúp cho họ tư duy đúng để tâm họ được thanh thản, nhẹ nhàng trước lúc chấm dứt
mạng sống này. Công việc hỗ trợ người lúc sắp lâm chung là nhắc nhở cho họ nhớ
về những thiện nghiệp họ đã làm trong quá khứ, nhắc nhở cho họ về công đức của
Phật, Pháp và Tăng, khuyên họ đừng luyến tiếc bất cứ gì trên đời vì rằng họ
không mang theo được gì cả ngoài những nghiệp thiện ác của họ. Như vậy sẽ giúp
cho tâm của họ hân hoan và thanh thản trước lúc qua đời và được tái sanh vào
một cảnh giới an lành.
Còn đối với
những người đã mất và được sanh lên thiên giới hay cõi đời này hoặc bị đọa vào
địa ngục hay bàng sanh thì khó mà giúp họ được, ngoại trừ bị sanh vào loài ngạ
quỷ thì chúng ta nên cúng dường tứ vật dụng đến những người có giới đức để hồi
hướng công đức cho họ thì họ nhận được. Chẳng hạn vào thời Phật còn tại thế, một hôm, các Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), Mahà-Moggallàna (Ðại Mục kiền liên), Anurudha (A na luật) và Kapppina (Kiếp tân na) đang trú tại một nơi
trong khu rừng không xa thành Ràjagaha (Vương Xá).
Bấy giờ ở Benares (Ba-la-nại) có một Bà-la-môn đại phú
gia, vốn là một giếng nước đầy đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, đám dân nghèo, du
sĩ, lữ khách, hành khất; vị ấy cúng dường bố thí thực phẩm, y phục, sàng tọa và
nhiều vật dụng khác.
Vị ấy điều hành sinh hoạt của mình và bố thí tùy theo cơ hội phù hợp với
các khách vãng lai, đủ mọi vật cần thiết cho tuyến đường trường. Vị ấy thường
dặn bà vợ:
- Này bà, đừng
quên việc bố thí này, bà phải chuyên tâm chăm lo bố thí như đã được định đoạt.
Bà vợ đồng ý, nhưng khi ông ra đi, bà liền cắt giảm tục lệ cúng dường
chư Tăng. Hơn nữa, đối với đám lữ khách đến xin cư trú, bà chỉ vào túp lều xiêu
vẹo bị bỏ phế đằng sau nhà và bảo họ:
- Hãy ở lại đó.
Khi đám du sĩ đến xin thực phẩm nước uống và các thức ăn khác, bà thường
buông lời nguyền rủa, kể ra cho từng người bất cứ vật gì ô uế đáng ghê tởm và
bảo:
- Hãy ăn phân
đi! Hãy uống nước tiểu đi! Hãy uống máu đi! Hãy ăn óc mẹ ngươi đi!
Do nghiệp lực trói buộc, lúc từ trần, bà tái sanh làm nữ ngạ quỷ chịu
nỗi khốn cùng phù hợp với ác hạnh của bà. Khi nhớ lại đám quyến thuộc trong
tiền kiếp, bà ước mong đến gần Tôn giả Sàriputta, và bà liền đến nơi ngài cư trú.
Các vị thổ thần trong nhà ngài không chấp nhận cho nữ quỷ vào. Do đó nữ
quỷ nói như sau: - Trong kiếp thứ năm kể về trước, ta là mẹ của Tôn giả Trưởng
lão Sàriputta, hãy cho
phép ta vào cửa để thăm ngài.
Vừa nghe vậy, chư thần liền cho phép nữ quỷ. Khi nữ
quỷ vào trong, nữ quỷ đứng cuối am thất và thấy ngài. Chợt trông thấy nữ quỷ, Ngài
(Xá Lợi Phất) động lòng từ bi hỏi:
Trần truồng
và xấu xí hình dung,
Gầy guộc và thân thể nổi gân,
Ngươi yếu ớt, xương sườn lộ rõ,
Người là ai, hiện đến đây chăng?
Gầy guộc và thân thể nổi gân,
Ngươi yếu ớt, xương sườn lộ rõ,
Người là ai, hiện đến đây chăng?
Nữ ngạ quỷ đáp:
Tôn giả, xưa
ta mẹ của ngài,
Trong nhiều kiếp trước ở trên đời,
Tái sanh cảnh giới loài ma quỷ,
Ðói khát giày vò mãi chẳng thôi.
Trong nhiều kiếp trước ở trên đời,
Tái sanh cảnh giới loài ma quỷ,
Ðói khát giày vò mãi chẳng thôi.
Những thứ gì
nôn tháo, bọt mồm,
Nước mũi tuôn ra, nước dãi đờm,
Chất mỡ rỉ ra từ xác chết
Bị thiêu, máu sản phụ lâm bồn.
Nước mũi tuôn ra, nước dãi đờm,
Chất mỡ rỉ ra từ xác chết
Bị thiêu, máu sản phụ lâm bồn.
Máu chảy ra
từ các vết thương,
Hoặc từ đầu, mũi bị cưa ngang,
Những gì cấu uế trong nam nữ,
Ðói lả, ta đều phải lấy ăn.
Hoặc từ đầu, mũi bị cưa ngang,
Những gì cấu uế trong nam nữ,
Ðói lả, ta đều phải lấy ăn.
Máu mủ ta ăn
của các loài,
Và luôn máu mủ của con người,
Không nơi cư trú, không nhà cửa,
Nằm chiếc giường đen nghĩa địa hoài.
Và luôn máu mủ của con người,
Không nơi cư trú, không nhà cửa,
Nằm chiếc giường đen nghĩa địa hoài.
Tôn giả, xin
Tôn giả cúng dường,
Vì ta, ngài bố thí ban ân,
Ðể cho ta hưởng phần công đức,
Giải thoát ta từ máu, mủ, phân.
Vì ta, ngài bố thí ban ân,
Ðể cho ta hưởng phần công đức,
Giải thoát ta từ máu, mủ, phân.
Ngày hôm sau, Tôn giả Sàriputta cùng ba vị Tỷ-kheo kia khất thực
trong thành Vương Xá, đến tận cung Ðại vương Bimbisàra (Tần-bà-sa).
Nhà vua hỏi: -
Chư Tôn giả, tại sao chư vị đến đây?
Tôn giả Mahà-Moggallàna trình vua những việc đã xảy ra. Nhà
vua phán: - Chư Tôn giả, trẫm chấp thuận việc ấy. Nhà vua bảo chư vị ra đi,
triệu vị cận thần vào và truyền lệnh:
- Hãy xây trong
khu rừng của thành này bốn am thất được cung cấp đủ bóng mát và nước chảy.
Khi các am thất đã được hoàn tất, nhà vua đem chúng cùng các vật dụng
cần thiết trong cuộc sống cúng dường Trưởng lão Sàriputta. Sau đó vị ấy dâng
tặng lễ vật này lên Tăng chúng khắp thế gian do đức Phật làm thượng thủ và hồi
hướng công đức ấy đến nữ ngạ quỷ kia.
Nữ ngạ quỷ hưởng các lợi lạc này liền được tái sanh lên thiên giới. Bấy
giờ đầy đủ mọi thứ cần dùng, một hôm Thiên nữ đến gần Tôn giả Mahà-Moggallàna và kể cho vị ấy nghe tất cả mọi
chi tiết trong hai kiếp tái sinh làm ngạ quỷ và Thiên nữ (Kinh tiểu bộ II, Ngạ
quỷ sự, Chuyện thứ 14).
-----------------------------------------------
[1] Ví dụ một người đồ tể chuyên giết heo thì nghiệp ở đây là nhớ lại việc giết heo của mình, nghiệp tướng là nghe tiếng heo kêu,
thấy con dao bay vào người đâm mình, hay thấy con heo đến đòi mạng mình, thú tướng là mình sẽ thấy cảnh chảo dầu
ở địa ngục, cảnh đói khát của ngạ quỷ…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét